Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 26/2024/DS-ST

Ngày: 02/5/2024

“V/v: Tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng

đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lưu Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Văn Hoà
  2. Bà Nguyễn Thị Viết Sáu

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường– Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 đến ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 353/2022/TLST-DS ngày 14/12/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 524/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐ-HPT ngày 26 tháng 01 năm 2024; Thông báo mở phiên tòa số 69/TB-TA ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2024/QĐ-HPT ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M – sinh năm: 1983

Địa chỉ: số F T, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Trần Văn Q – sinh năm: 1980.

Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Ông Lê Giáp N – sinh năm: 1984.

Địa chỉ: khu phố I, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn K - sinh năm: 1969.

Địa chỉ: H N, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, Luật sư – Công ty L1, đoàn luật sư tỉnh Bình Thuận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Hoàng P - sinh năm: 1985
  2. Địa chỉ: số F T, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  3. Văn phòng C
  4. Địa chỉ: số E C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  5. Chi nhánh Văn phòng Đ
  6. Địa chỉ: số C T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  7. Bà Trần Thị Kim L - sinh năm: 1988
  8. Địa chỉ: khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
  9. Bà Lê Thị Hồng Q1 - sinh năm: 1985
  10. Địa chỉ: khu phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bà M, ông K, ông H có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2022, cùng với đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đều trình bày:

Ngày 24/5/2019 bà Nguyễn Thị M, ông Võ Hoàng P cùng với ông Trần Văn Q, ông Lê Giáp Nhật k Hợp đồng đặt cọc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng 3000m², theo Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất, ngày 16/3/2019 của Công ty cổ phần R, có kích thước các cạnh: Từ điểm 1-2=30m; điểm 2-3= 98,0m; điểm 3-4=30,0m; điểm 4-1= 101,8m; trong tổng diện tích 5000m², đất trồng cây lâu năm, tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP ngày 07/11/2005, với giá 4.450.000.000 đồng, nên ông Q, ông N đặt cọc cho bà M, ông P 1.500.000.000 đồng, các bên còn thỏa thuận “Việc tách thửa có liên quan đến việc lên 100m² đất thổ cư bên A cam kết sẽ chịu chi phí lên thổ cư này” và ông Q, ông N cam kết sẽ chịu trách nhiệm tách thửa trả lại cho bà M, ông P quyền sử dụng đất có diện tích 2000m².

Ngày 16/07/2019 bà M, ông P cùng với ông Q, ông Nhật ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C với nội dung: “Bà M, ông P chuyển nhượng cho ông N, ông Q thửa đất số 17, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, diện tích 5000m², đất trồng cây lâu năm, giá chuyển nhượng 225.000.000 đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P cấp ngày 07/11/2005".

Lý do giá thoả thuận chuyển nhượng 3000m² đất theo Hợp đồng đặt cọc về việc mua, bán nhà, đất ngày 24/5/2019 là 4.450.000.000 đồng, nhưng trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, chuyển nhượng 5000m² đất chỉ là 225.000.000 đồng, vì ông N, ông Q yêu cầu ghi giá thấp hơn giá thực tế để giảm việc nộp thuế đất.

Sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C thì các bên ký thêm 01 hợp đồng giả tạo đó là Hợp đồng vay tiền số công chứng 2606, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, qua đó ông N, ông Q có vay của bà M, ông P số tiền 2.500.000.000 đồng (tương đương 2000m² mà ông Q, ông N cam kết tách thửa trả lại). Mục đích các bên ký hợp đồng giả tạo này là để đảm bảo chứng minh bà M, ông P chỉ chuyển nhượng cho ông Q, ông N 01 phần đất có diện tích 3000m², chứ không phải 5000m², theo như Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng hợp đồng số 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019 và bà M, ông P không có nhận khoản tiền 225.000.000 đồng từ ông N và ông Q.

Do thời gian tách thửa quá lâu và sợ bị ông N, ông Q lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên vào tháng 8/2019 bà M cùng với ông N, ông Q ký thêm 01 hợp đồng giả tạo lần 02 đó là Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất với nội dung: “Bà M đặt cọc cho ông N, ông Q 500.000.000 đồng, để nhận chuyển nhượng diện tích 2000m² đất, tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, với giá 3.000.000.000 đồng. Nếu ông N, ông Q không chuyển nhượng thửa đất trên thì sẽ bồi thường cho bà M, tiền cọc đặt mua đất 500.000.000 đồng và bồi thường gấp 5 lần”, vì đây là hợp đồng giả tạo nên bà M không đặt cọc khoản tiền 500.000.000 đồng cho ông Q, ông N, đến ngày 03/9/2019 Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động theo hồ sơ số 22966.CN.001937 cho ông Q, ông N được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất trên.

Sau nhiều lần yêu cầu ông Q, ông N tách thửa trả lại cho bà M, ông P 2000m² nhưng ông Q, ông N không đồng ý. Việc ông Q, ông N đưa ra thông tin lừa dối để bà M, ông P tin tưởng chuyển nhượng toàn bộ diện tích 5000m² rồi chiếm đoạt phần diện tích 2000m² còn lại là vi phạm pháp luật nên bà M khởi kiện yêu cầu:

Buộc ông Q, ông N trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 07/11/2005. Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà M, ông P với ông Q và ông N, số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C và huỷ cập nhật biến động theo hồ sơ số 22966.CN.001937 ngày 03/9/2019, tại Chi nhánh Văn Phòng Đ, vô hiệu do bị lừa dối và bà M không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K đều trình bày:

Ngày 24/5/2019, bà Nguyễn Thị M, ông Võ Hoàng P cùng với ông Trần Văn Q, ông Lê Giáp Nhật k Hợp đồng đặt cọc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng 3000m², theo Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất, ngày 16/3/2019 của Công ty cổ phần R, có kích thước các cạnh: Từ điểm 1-2=30m; điểm 2-3= 98,0m; điểm 3-4=30,0m; điểm 4-1= 101,8m; trong tổng diện tích 5000m², đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 17, tờ bản đồ số 23, tại xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, do UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP ngày 07/11/2005, với giá 4.450.000.000 đồng, nên ông Q, ông N đặt cọc cho bà M, ông P 1.500.000.000 đồng và các bên còn thỏa thuận “Việc tách thửa có liên quan đến việc lên 100m² đất thổ cư bên A cam kết sẽ chịu chi phí lên thổ cư này”.

Ngày 16/07/2019 bà M, ông P với ông Q, ông Nhật ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C, qua đó bà M, ông P chuyển nhượng cho ông Q, ông N thửa đất số 17, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, diện tích 5000m², đất trồng cây lâu năm, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 07/11/2005 với 225.000.000 đồng.

Sau khi ký hợp đồng, ông Q, ông N đã thanh toán đầy đủ 225.000.000 đồng cho bà M, ông P ngay tại thời điểm công chứng, nhưng các bên không lập giấy giao nhận tiền, đến ngày 03/9/2019 Chi nhánh Văn phòng Đ đã cập nhật biến động theo hồ sơ số 22966.CN.001937 cho ông Q, ông N được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất trên.

Đối với Hợp đồng vay tiền số công chứng 2606, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, thể hiện ông N, ông Q có vay của bà M, ông P số tiền 2.500.000.000 đồng, là giao dịch vay mượn tiền của các bên.

Đối với Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất tháng 8/2019 với nội dung “Bà M đặt cọc cho ông N, ông Q 500.000.000 đồng, để nhận chuyển nhượng diện tích 2000m² đất, tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, với giá 3.000.000.000 đồng. Nếu ông N, ông Q không chuyển nhượng thửa đất trên thì sẽ bồi thường cho bà M, tiền cọc đặt mua đất 500.000.000 đồng và bồi thường gấp 5 lần”, việc này bà M thỏa thuận nhận chuyển nhượng lại 2000m² đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P cấp ngày 07/11/2005 mà bà M đã chuyển nhượng cho ông Q, ông N theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C.

Nên việc bà M yêu cầu ông Q, ông N trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 07/11/2005. Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C và huỷ cập nhật biến động theo hồ sơ số 22966.CN.001937 ngày 03/9/2019, tại Chi nhánh Văn Phòng Đ, vô hiệu do bị lừa dối là không đúng nên ông Q, ông N không đồng ý và ông Q, ông N không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Thống nhất ý kiến của ông K, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P, cấp ngày 07/11/2005. Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, của Văn phòng C. Huỷ cập nhật biến động theo hồ sơ số 22966.CN.001937 ngày 03/9/2019 của Chi nhánh Văn Phòng Đ, là không đúng nên bị đơn không đồng ý và bị đơn không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp: Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì thửa đất chuyển nhượng thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, diện tích 5000m², mảnh chỉnh lý thửa đất có diện tích 4833,6m², giảm 166,4m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 07/11/2005 (cập nhật chỉnh lý biến động ngày 10/7/2019).

Kết quả Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp, thể hiện thửa đất tranh chấp được chia làm 02 thửa: Thửa đất số 1 CLN, diện tích 1833,6m²; Thửa đất số 2 CLN, diện tích 3000m².

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Các đương sự chấp hành đúng nội quy phiên tòa.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị M, ông Võ Hoàng P với ông Trần Văn Q, ông Lê Giáp N, số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C, tỉnh Bình Thuận là vô hiệu.

Buộc ông Trần Văn Q và ông Lê Giáp N phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 00008 VP, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 07/11/2005 cho bà Nguyễn Thị M và ông Võ Hoàng P. Bà M, ông Q có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai để kê khai, điều chỉnh và làm các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý tiền án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 16/7/2019 giữa bà M, ông P với ông Q, ông N nên đây là quan hệ tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có đưa thêm người tham gia tố tụng gồm bà Trần Thị Kim L, bà Lê Thị Hồng Q1 là vợ của các bị đơn và Văn phòng C, Chi nhánh Văn phòng Đ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để xem xét toàn diện đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự là đúng theo quy định tại điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về ủy quyền tham gia tố tụng:

Căn cứ vào Điều 85, Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự, xét Giấy ủy quyền được công chứng số 6192, quyển số 10/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/10/2023 của ông Võ Hoàng P với bà Nguyễn Thị M tại Văn phòng C1 và Giấy uỷ quyền số 3275, quyển số 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/9/2023 tại Văn phòng C2 tỉnh Bình Thuận của ông Trần Văn Q, ông Lê Giáp N với ông Nguyễn Văn K là hợp pháp, nên bà M, ông K đủ tư cách đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo nội dung văn bản ủy quyền.

[1.4] Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự trong vụ án. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C vắng mặt lần thứ ba. Chi nhánh Văn phòng Đ, bà Trần Thị Kim L, bà Lê Thị Hồng Q1 vắng mặt, nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Xét Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất ngày 24/5/2019, bà M, ông P thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Q, ông N quyền sử dụng 3000m², vị trí đất theo Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất, ngày 16/3/2019 của Công ty cổ phần R, có kích thước các cạnh: Từ điểm 1-2=30m; điểm 2-3= 98,0m; điểm 3-4=30,0m; điểm 4-1= 101,8m trong tổng diện tích 5000m², đất trồng cây lâu năm, tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 23, tọa lạc xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP ngày 07/11/2005, với giá 4.450.000.000 đồng, nên ông Q, ông N đã đặt cọc cho bà M, ông P 1.500.000.000 đồng là có thật, thể hiện qua lời khai của nguyên đơn, bị đơn và phù hợp với nội dung tại Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất lập ngày 24/5/2019.

Sau khi ký hợp đồng đặt cọc thì các bên ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C với nội dung: “Bà M, ông P chuyển nhượng cho ông N, ông Q, thửa đất số 17, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, diện tích 5000m², đất trồng cây lâu năm, giá chuyển nhượng 225.000.000 đồng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 07/11/2005”. Tuy nhiên, bà M cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này là vô hiệu vì có sự lừa dối, lý do là bà M với ông P chỉ chuyển nhượng cho ông Q, ông N phần đất có diện tích 3000m² trong tổng diện tích 5000m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P, cấp ngày 07/11/2005. Để chứng minh việc này bà M đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm Hợp đồng vay tiền số công chứng 2606, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C và Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất tháng 8/2019.

Xét Hợp đồng vay tiền số công chứng 2606, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C giữa bà M, ông P với ông Q, ông N các bên thỏa thuận: “Ông Q, ông N đồng ý cho bà M, ông P vay số tiền là 2.500.000.000 đồng; Thời hạn vay 03 tháng kể tử ngày 16/7/2019 đến ngày 16/10/2019; Phương thức vay: Cho vay một lần bằng tiền mặt Việt Nam đồng. Việc giao nhận tiền do hai bên tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, ngoài sự chứng kiến của công chứng viên; Phương thức trả: Bà M, ông P trả cho ông Q, ông N số tiền vay một lần vào ngày 16/10/2019”, tại phiên tòa bị đơn cho rằng đây là giao dịch vay tiền giữ các bên nhưng lại không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh có việc giao và nhận tiền theo như cam kết và thực tế giữa bà M, ông P với ông Q, ông N không có việc vay số tiền 2.500.000.000 đồng, vì vậy đến ngày 16/10/2019 là thời hạn trả tiền nhưng bà M, ông P không thực hiện việc trả nợ cho ông Q, ông N nên đủ căn cứ xác định đây là hợp đồng giả tạo để ông Q và ông N tạo niềm tin trong việc có trách nhiệm tách thửa trả lại 2000m² quyền sử dụng đất cho bà M, ông P.

Đối với Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất giữa bà M với ông Q, ông Nhật k vào tháng 8/2019 có nội dung: “Bà M đặt cọc cho ông Q, ông N 500.000.000 đồng; Thời hạn đặt cọc 03 tháng; Mục đích đặt cọc: Mua lại đất của ông Q, ông N, tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, diện tích 2000m²; Giá bán 3.000.000.000 đồng; Nghĩa vụ: Bà M nhận lại số tiền cọc và một khoản tiền bằng 05 lần số tiền cọc trong trường hợp ông Q, ông N từ chối việc giao kết”, nhưng thực tế không có việc bà M đặt cọc cho ông Q, ông N số tiền 500.000.000 đồng, để nhận chuyển nhượng lại thửa đất này qua đó cho thấy việc ông Q, ông Nhật k hợp đồng đặt cọc là để cho bà M, ông P tin tưởng ông Q, ông N sẽ có trách nhiệm tách thửa giao trả lại 2000m² quyền sử dụng đất như đã cam kết, vì vậy Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất giữa bà M với ông Q, ông Nhật k vào tháng 8/2019 cũng là hợp đồng giả tạo nên không ràng buộc trách nhiệm giữa các bên.

Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C, thể hiện M, ông P chuyển nhượng cho ông Q, ông N phần đất có diện tích 5000 m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 07/11/2005, giá chuyển nhượng 225.000.000 đồng là không đúng với thực tế vì theo Hợp đồng đặt cọc ngày 24/5/2019 các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng 3000m² tại thửa đất này là 4.450.000.000 đồng và ông Q, ông N đã đặt cọc cho bà M, ông P 1.500.000.000 đồng, số tiền đặt cọc 3000m² quyền sử dụng đất còn cao hơn cả số tiền chuyển nhượng 5000m², quyền sử dụng đất theo như Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C.

Bên cạnh đó tại Hợp đồng đặt cọc ngày 24/5/2019 thể hiện các bên chỉ thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng 3000m², theo Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất, ngày 16/3/2019 của Công ty cổ phần R, có kích thước các cạnh: Từ điểm 1-2=30m; điểm 2-3= 98,0m; điểm 3-4=30,0m; điểm 4-1= 101,8m; trong tổng diện tích 5000m², đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 17, tờ bản đồ số 23, tại xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, do UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP ngày 07/11/2005, với giá 4.450.000.000 đồng, nên mới thể hiện ý kiến “Việc tách thửa có liên quan đến việc lên 100m2 đất thổ cư bên A (Lê Giáp N) cam kết sẽ chịu chi phí lên thổ cư này”. Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án ông Q, ông N cũng đồng ý tách thửa trả lại cho bà M 2000m² quyền sử dụng đất nên ngày 11/12/2023 Công ty TNHL1 thẩm định giá và Đo đạt địa chính BTA Việt Nam tiến hành đo đạt và có kết quả thửa đất tranh chấp được chia làm 02 thửa: Thửa đất số 1 CLN, diện tích 1833,6m²; Thửa đất số 2 CLN, diện tích 3000m², nhưng sau đó các bên không thỏa thuận được việc phân chia để tách thửa đất.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ cũng như lời khai của các đương sự đủ cơ sở xác định bà M, ông P chỉ chuyển nhượng cho ông Q và ông N phần diện tích 3000m² theo Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất ngày 24/5/2019, chứ không phải 5000m² theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C, vì Hợp đồng vay tiền số công chứng 2606, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C và Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất tháng 8/2019 là hợp đồng giả cách để lừa dối qua đó tạo niềm tin cho bà M, ông P ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C.

Điều 127 Bộ luật dân sự quy định: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”.

Nên việc bà M khởi kiện yêu cầu Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà M, ông P với ông Q và ông N, số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, của Văn phòng C; Huỷ cập nhật biến động theo hồ sơ số 22966.CN.001937 ngày 03/9/2019 của Chi nhánh Văn Phòng Đ, vô hiệu do bị lừa dối và buộc ông Q, ông N trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00008VP, do UBND thành phố P, cấp ngày 07/11/2005 là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu:

Điều 131 Bộ luật dân sự quy định: “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định”.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các bên đương sự đã được giải thích đầy đủ về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trong cùng vụ án nhưng các bên vẫn không có yêu cầu vì vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp thì các đương sự được quyền khởi kiện trong 01 vụ kiện khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về chi phí tố tụng: Quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thị M đã nộp 1.500.000 đồng, tiền tạm ứng chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Tại phiên tòa, bà M không yêu cầu giải quyết về chi phí tố tụng nên không xem xét.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 244, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 120, Điều 122, Điều 127, Điều 131, Điều 137 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên xử: Chấp nhận nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị M, ông Võ Hoàng P với ông Trần Văn Q, ông Lê Giáp N, số công chứng 2605, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/7/2019, tại Văn phòng C, tỉnh Bình Thuận vô hiệu.

Buộc ông Trần Văn Q và ông Lê Giáp N phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 684603, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 00008 VP, do UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 07/11/2005 cho bà Nguyễn Thị M và ông Võ Hoàng P. Bà M, ông P có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai để kê khai, điều chỉnh và làm các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Nếu ông Trần Văn Q và ông Lê Giáp N không giao trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thì bà Nguyễn Thị M và ông Võ Hoàng P được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 28 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự và các quy định khác của pháp luật.

3. Về án phí: Ông Trần Văn Q và ông Lê Giáp N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả bà Nguyễn Thị M 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014030 ngày 14/12/2022, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị M, ông Trần Văn Q và ông Lê Giáp N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/5/2024). Ông Võ Hoàng P, Văn phòng C, Chi nhánh Văn phòng Đ, Bà Trần Thị Kim L, bà Lê Thị Hồng Q1 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - Viện kiểm sát nhân dân Phan Thiết
  • - Thi hành án dân sự Phan Thiết
  • - Lưu

TM-HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa

NGUYỄN LƯU TRIỀU

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 26/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger