|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày: 28-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Đinh Ngọc Tân
- Bà: Bùi Thị Hòa
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình tham gia
phiên toà: ông Đinh Thế Huy, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 28/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 03/7/2024 đối với bị cáo:
Vũ Thị Thu T, sinh ngày 26/02/1966 tại huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: khu phố T, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí- Nguyên Giám đốc Ngân hàng N1- Chi nhánh huyện Y, tỉnh Hòa Bình; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Vũ Minh T1 (Là liệt sỹ) và bà Phạm Thị L; chồng là Nguyễn Văn B và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo là Đảng viên Đảng công sản Việt Nam (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 167-QĐ/UBKTHU ngày 02/7/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy Y); Hiện bị cáo đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 110/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Công ty TNHH X, địa chỉ trụ sở: khu phố Y, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T2, Chức vụ Giám đốc (vắng mặt).
- + Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện Y; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang T3, Chức vụ: Phó Giám đốc phụ trách (vắng mặt).
- + Ban Q1 đất huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Người đại diện: ông Bùi Văn T4, Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Tự Q, sinh năm 1986, cán bộ kỹ thuật Ban Q1 đất huyện Y, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Vũ Thị Thu T được tuyển dụng vào công tác tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện Y, tỉnh Hòa Bình (A) từ ngày 01 tháng 8 năm 1987. Ngày 01 tháng 11 năm 2011, bị cáo được bổ nhiệm làm Giám đốc, đến tháng 09/2016 bị cáo được bổ nhiệm lại chức vụ Giám đốc. (Theo các Quyết định số 270 NH-QĐ ngày 20/7/1987 về việc tuyển dụng của Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh N1; Quyết định số 361/QĐ/NHNoHB-HCNS ngày 31/10/2011 của Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh N1; Quyết định số 1405/QĐ/NHNo- TCTL ngày 23/9/2016 của Tổng Giám đốc Ngân hàng N1.
Trong thời gian giữ chức vụ Giám đốc A, T nắm rõ các quy định về việc cấp Bảo lãnh ngân hàng theo quy định của Ngân hàng N2 và Ngân hàng N1. Do có mối quan hệ quen biết với cá nhân là các chủ Công ty, với suy nghĩ tăng cường mối quan hệ với khách hàng để trong tương lai Công ty sẽ sử dụng nhiều dịch vụ của ngân hàng để tăng uy tín của Ngân hàng A1 cũng như để tạo điều kiện cho Công ty X, trách nhiệm trong việc dự thầu, thực hiện hợp đồng và bảo đảm nghĩa vụ trách nhiệm của nhà thầu. Trong tháng 12 năm 2020, bị cáo T đã ký, cấp Bảo lãnh dự thầu và Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (gọi chung là Thư bảo lãnh) không đúng quy định cho Công ty TNHH X, cụ thể như sau:
- + Bảo lãnh dự thầu số 168/NHNoYT-KHKD ngày 09/12/2020 (bảo lãnh số tiền 45.000.000 đồng) cho Công ty TNHH X. Công ty này đã nộp cho C đầu tư là Ban Q1 đất huyện Y, tỉnh Hòa Bình để tham gia dự thầu công trình: Cải tạo, nâng cấp đường Quốc lộ 12B đi trường THPT Y1, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
- + Bảo lãnh thực hiện hợp đồng số 188/NHNN&PTNT-BLTHHĐ ngày 22/12/2020 (bảo lãnh số tiền 63.000.000 đồng) cho Công ty TNHH X. Công ty này đã nộp cho C đầu tư là Ban Q1 đất huyện Y, tỉnh Hòa Bình để tham gia dự thầu công trình: Cải tạo, nâng cấp đường Quốc lộ 12B đi trường THPT Y1, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
Việc phát hành 02(hai) Thư bảo lãnh trên diễn ra vào khoảng cuối tháng 12 năm 2020, Giám đốc Công ty TNHH X là ông Phạm Văn T2 đã trực tiếp soạn thảo nội dung 02 (hai) thư bảo lãnh (Bảo lãnh dự thầu và Bảo lãnh thực hiện hợp đồng). Do có mối quan hệ quen biết với Vũ Thị Thu T là Giám đốc A, ông T2 đã cầm 02(hai) Thư bảo lãnh đến gặp và xin xác nhận từ bị cáo T. Quá trình gặp gỡ T, ông T2 đưa cho T 02 (hai)Thư bảo lãnh để xin xác nhận, T tiếp nhận 02 (hai) Thư bảo lãnh (đã được soạn sẵn nội dung) và T không nói cho ông T2 biết thư bảo lãnh phải được phát hành theo biểu mẫu và trình tự, thủ tục theo quy định của Ngân hàng N1. T xem nội dung thư bảo lãnh, sau đó ký xác nhận và chỉ đạo Phạm Thúy N là giao dịch viên thuộc Phòng kế toán ngân quỹ được giao quản lý, sử dụng con dấu của A mang dấu lên phòng làm việc của mình, sau đó T tự đóng dấu vào 02 (hai) Thư bảo lãnh và chuyển lại cho ông T2. T không yêu cầu ông T2 phải nộp phí bảo lãnh hay lợi ích vật chất cũng như không hứa hẹn sẽ cho T bất kỳ lợi ích gì khác. Bản thân ông T2 sau khi nhận được 02 Thư bảo lãnh có chữ ký và dấu đỏ xác nhận của T đã cầm về và nộp cho C đầu tư là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng và phát triển quỹ đất huyện Y. Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Y đã thu giữ 02 (hai) Thư bảo lãnh để điều tra giải quyết vụ án.
Ngày 19/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định phôi, chữ ký, con dấu đối với 02 (hai) thư bảo lãnh do bị cáo ký, cấp cho Công ty TNHH X. Tại kết luận giám định số 400/KL-KTHS ngày 26/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận có nội dung:
- “ Các tài liệu cần giám định (02 thư bảo lãnh) không cùng loại với phôi thư bảo lãnh trắng, số bảo lãnh NN534092 của Ngân hàng N1.
- + Chữ ký đứng tên Giám đốc Vũ Thị Thu T trên 02 thư bảo lãnh với chữ ký của bà Vũ Thị Thu T trên biên bản thu mẫu chữ ký, chữ viết ngày 28/8/2023 do cùng một người viết ra.
- + Hình dấu tròn nội dung “NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH H” trên 02 thư bảo lãnh với mẫu dấu tròn của Ngân hàng N1 trên bản thu mẫu theo biên bản làm việc ngày 29/8/2023 do cùng một con dấu đóng ra.
- + Hình dấu chức danh “GIÁM ĐỐC Vũ Thị Thu T” trên 02 thư bảo lãnh với mẫu hình dấu chức danh của bà Vũ Thị Thu T- Giám đốc Ngân hàng N1 chi nhánh huyện Y trên bản thu mẫu theo biên bản làm việc ngày 29/8/2023 do cùng một con dấu đóng ra.
02 (hai) Thư bảo lãnh do bị cáo Vũ Thị Thu T ký, cấp không đúng theo các quy định về cấp bảo lãnh của Ngân hàng N1, cụ thể: Ngân hàng N1 – Chi nhánh tỉnh H có Công văn số: 1389/NHNo.HB-KTNB, ngày 23/10/2023 có nội dung:
- “1. 02 (hai) Thư bảo lãnh nêu trên không thực hiện đúng theo các quy định về cấp bảo lãnh của Ngân hàng N1 (A).
- 2. Về biểu mẫu, trình tự, thủ tục, thẩm quyền:
- + Về thẩm quyền: Căn cứ quy định tại Khoản 3, Điều 16 “Thẩm quyền quyết định cấp bảo lãnh, ký thỏa thuận cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh”, Quy chế số 289/QĐ-HĐTV-KHL ngày 22/6/2020 của Ngân hàng N1 về “Bảo lãnh ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng N1”, Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện Y, Hòa Bình được cấp Bảo lãnh ngân hàng trong phạm vi thẩm quyền cấp tín dụng đối với: Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán; Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước; Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm (Bảo lãnh bảo hành).
- +Về biểu mẫu: Căn cứ quy định tại khoản 6, Điều 15 “Cam kết bảo lãnh” Quy chế số 289/QĐ-HĐTV-KHL, ngày 22/6/2020 của Ngân hàng N1 về “Bảo lãnh ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng N1” thì 02 Thư bảo lãnh nêu trên không thực hiện đúng quy định về biểu mẫu.
- + Về trình tự, thủ tục: Căn cứ Điều 11 “Trình tự và thủ tục cấp bảo lãnh tại A nơi cấp bảo lãnh” Quyết định số 1266/QĐ-NHNo-KHL, ngày 29/6/2020 của Ngân hàng N1 về “Quy định, quy trình bảo lãnh ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng N1”, thì 02 Thư bảo lãnh nêu trên không thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục cấp bảo lãnh ngân hàng.”
- Do vậy, 02 (hai) Thư bảo lãnh trên là giấy tờ giả, không có giá trị pháp lý. Căn cứ vào các chứng cứ đã thu thập được, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Y đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với Vũ Thị Thu T về tội giả mạo trong công tác quy định tại Khoản 2 Điều 359 Bộ luật hình sự. Hiện 02 thư bảo lãnh trên đang được bảo quản trong hồ sơ vụ án.
- Đối với việc xác định thiệt hại trong việc bị cáo Vũ Thị Thu T cấp 02 (hai) Thư bảo lãnh sai quy định tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ quy định tại khoản 6, Điều 15 “Cam kết bảo lãnh” Quy chế số 289/QĐ-HĐTV-KHL, ngày 22/6/2020 của Ngân hàng N1 về “ Bảo lãnh ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng N1” thì 02 (hai) Thư bảo lãnh nêu trên không thực hiện đúng quy định về biểu mẫu; Căn cứ Điều 11 “Trình tự và thủ tục cấp bảo lãnh tại A nơi cấp bảo lãnh” Quyết định số 1266/QĐ-NHNo-KHL, ngày 29/6/2020 của Ngân hàng N1 về “Quy định, quy trình bảo lãnh ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng N1”, thì 02 (hai) Thư bảo lãnh nêu trên không thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục cấp bảo lãnh ngân hàng; 02 (hai)Thư bảo lãnh nêu trên không phải Thư bảo lãnh do A cấp, do đó các Thư bảo lãnh nêu trên không có giá trị pháp lý đối với A; A không phát sinh chi phí thẩm định, thiết lập hồ sơ, nên không có cơ sở để xác định số tiền phí bảo lãnh và thu phí, do đó không có cơ sở để xác định thiệt hại.
Quá trình điều tra xác định ngoài việc ký, cấp 02 (hai) Thư bảo lãnh sai quy định nêu trên, bị cáo Vũ Thị Thu T không có hành vi cấp Thư bảo lãnh sai quy định nào khác.
- Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng: 02 thư bảo lãnh (bảo lãnh dự thầu và bảo bảo lãnh thực hiện hợp đồng) và giấy tờ, tài liệu liên quan đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa bình lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSYT ngày 27/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy đã truy tố Vũ Thị Thu T về tội “Giả mạo trong công tác” theo qui định tại điểm b,c khoản 2 Điều 359 Bộ luật hình sự.
Thực hành quyền công tố tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, sau khi xem xét đánh giá toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 359; điểm s, x, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt Vũ Thị Thu T từ 24 (hai bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Thị Thu T; không đề cập giải quyết về trách nhiệm dân sự. xử lý vật chứng và xem xét trách nhiệm của các cá nhân có liên quan trong vụ án.
Bị cáo Vũ Thị Thu T đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, không có lời trình bày tranh luận gì.
Bị cáo T nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo là rõ ràng phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, phù hợp với kết luận giám định; tài liệu đồ vật thu giữ cùng chứng cứ, các tài liệu khác có trong hồ sư vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng cuối tháng 12 năm 2020 với chức vụ là Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện Y, tỉnh Hòa Bình, vì muốn tạo quan hệ cá nhân, giữ mối quan hệ với các công ty xây dựng và nhằm nâng cao uy tín cá nhân nên Vũ Thị Thu T đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của bản thân, sự tin tưởng của cán bộ quản lý con dấu của A để ký, cấp giả 02 (hai) thư bảo lãnh cho Công ty TNHH X để tham gia gói thầu sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Vì vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Giả mạo trong công tác”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm b,c khoản 2 Điều 359 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm hại tới tính đúng đắn, xác thực, chính xác của nội dung các loại giấy tờ, văn bản chính thức của cơ quan tổ chức, gây ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước, của Ngân hàng, tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây ảnh hưởng đến trật tự quản lý hành chính. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ sai trái do hành vi gây ra. Nhưng vì muốn tạo mối quan hệ cá nhân, giữ mối quan hệ với Công ty X và nhằm nâng cao uy tín cá nhân nên bị cáo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấp 02 thư bảo lãnh giả cho Công ty X. Lỗi của bị cáo trong vụ án này là lỗi cố ý trực tiếp, vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Vũ Thị Thu T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là con đẻ của liệt sỹ Vũ Minh T1, có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác được Nhà nước, các cơ quan nhà nước khen thưởng tặng nhiều bằng khen, giấy khen đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định điểm s, v, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, hành vi phạm tội chưa gây thiệt hại về tài sản, là người nuôi dưỡng mẹ già, người duy nhất thờ cúng liệt sỹ nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cho bị cáo.
[4] Hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy không cần thiết bắt bị cáo sống cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 359 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Vũ Thị Thu T hiện bị là người đang nuôi mẹ già và thờ cúng liệt sỹ, bị cáo sức khỏe yếu nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: không.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 02 (hai) Thư bảo lãnh là giấy tờ giả, không có giá trị pháp lý. Hiện 02 thư bảo lãnh trên đang được bảo quản trong hồ sơ vụ án, nay Hội đồng xét xử không đề cấp giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo Vũ Thị Thu T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các điều 331, điều 332, điều 333, điều 334 và điều 335 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[10] Về vấn đề khác:
Đối với ông Phạm Văn T2 giám đốc Công ty TNHH X là người trực tiếp soạn thảo nội dung 02 (hai) Thư bảo lãnh. Qua điều tra làm rõ ông T2 là người soạn thảo 02 thư bảo lãnh theo mẫu trên mạng. Khi nhận được Thư bảo lãnh có chữ ký và dấu đỏ của bị cáo Vũ Thị Thu T Giám đốc A. Ông T2 nhận thức 02 Thư bảo lãnh trên có giá trị pháp lý và đã nộp cho chủ đầu tư. Ông T2 không biết 02 (hai) Thư bảo lãnh được cấp là do bị cáo T thực hiện không đúng quy trình, quy định. Vì vậy hành vi của ông T2 không đồng phạm với bị cáo Vũ Thị Thu T về tội “Giả mạo trong công tác” quy định tại Điều 359 Bộ luật hình sự, không cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 Bộ luật hình sự và không đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 của Bộ luật hình sự. Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý đối với hành vi của ông T2 là có căn cứ.
Đối với Phạm Thúy N (được giao quản lý, sử dụng con dấu của A từ tháng 11/2019 đến ngày 01/8/2021). Qua điều tra xác định, chị N không được Vũ Thị Thu T chỉ đạo, thông tin việc phát hành các Thư bảo lãnh không đúng quy định. Quá trình quản lý, sử dụng con dấu của A, chị N được Vũ Thị Thu T yêu cầu mang dấu lên phòng làm việc, chị N không rõ mang lên để sử dụng vào mục đích gì và cũng không được đóng dấu, do đó hành vi của chị N không đồng phạm với bị cáo Vũ Thị Thu T về tội “Giả mạo trong công tác” quy định tại Điều 359 Bộ luật hình sự. Cơ quan Cảnh sát Điều tra không đề cập xử lý đối với Phạm Thúy N là có căn cứ đúng pháp luật.
Đối với chủ đầu tư là là Ban Q1 đất huyện Y, tỉnh Hòa Bình và các cá nhân có liên quan, trong quá trình triển khai thực hiện dự án đều không biết các quy trình, quy định về bảo lãnh ngân hàng của Ngân hàng N2 và Ngân hàng N1. Mặt khác, dự án đã hoàn thành, quá trình thực hiện, Công ty TNHH X không để sai phạm nào dẫn đến chủ đầu tư phải yêu cầu A phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho Công ty theo cam kết bảo lãnh. Do vậy, Cơ quan Điều tra không đề nghị xử lý đối với các cá nhân có liên quan tại Ban Q1 đất huyện Y, tỉnh Hòa Bình là có đúng qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Thu T phạm tội “Giả mạo trong công tác”.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 359; điểm s, v, x khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Thị Thu T 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Thị Thu T cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.
2.Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vũ Thị Thu T phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo Vũ Thị Thu T có quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo theo quy định của pháp luật
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Bùi Thị Lan |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về giả mạo trong công tác
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giả mạo trong công tác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Thu Th bị VKSND huyện Yên Thủy truy tố về tội giả mạo trong công tác theo điểm b, c kh 2 đ359
