|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HSST Ngày 19 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ảnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thái Việt
Ông Đồng Minh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Trúc Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Nam Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T (Tên gọi khác: Tý Nga) - sinh ngày 15 tháng 12 năm 1999 tại huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa; trú tại: Tổ dân phố số x, thị trấn V, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H và bà Trần Thị Thanh N; chưa có vợ - con; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án hình sự số: 41/2019/HSST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh xử phạt Trần Văn T 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong ngày 15/11/2022. Nhân thân: Ngày 12/10/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh khởi tố bị can số: 100/QĐ-CQĐT về tội “Cướp giật tài sản”; không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bị hại: Bà Huỳnh Thị Uyển N – sinh ngày 1999; trú tại: Thôn T, xã V, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Đặng Thị L – sinh năm: 1974; trú tại: Tổ dân phố số y, thị trấn V, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Lê Minh T – sinh năm: 1984; trú tại: Thôn T, xã V, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
+ Ông Lê Văn C – sinh năm: 1987; trú tại: Thôn T, xã V, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10/10/2023, Trần Văn T điều khiển xe mô tô gắn biển số 79S1-2313, chạy từ thị trấn Vạn Giã qua xã Vạn Thắng, khi đang chạy trên quốc lộ 1A theo hướng Nam - Bắc đến đoạn cầu Đồng Điền thuộc xã Vạn Bình, Thanh thấy có một nam thanh niên lạ mặt (chưa xác định được lai lịch) đang đi bộ cùng chiều, nên Thanh tấp xe lại hỏi người này đi đâu để cho theo xe thì người này nói đi về Tân Dân 1 – Vạn Thắng. Nghe vậy, tiện đường nên T chở người này theo, khi chạy đến thôn Tân Dân 2 - Vạn Thắng ngang qua nhà Huỳnh Thị Uyển N thấy nhà Nhi cửa chính đang mở, trên trụ sắt ngay cửa, tại vị trí có cột lon cắm nhang có để 01 điện thoại di động nên T nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại này bán kiếm tiền tiêu xài. T quay xe lại, dựng xe cách nhà N khoảng 04m rồi xuống xe đi bộ lại chổ điện thoại, để người thanh niên theo xe ngồi trên xe. T quan sát thấy trong nhà không có ai trông coi nên lén lút lấy điện thoại đang sạc pin rút ra khỏi dây sạc rồi cất vào trong túi quần, nhanh chóng đi lại chổ dựng xe và nói với thanh niên đạp nổ máy xe rồi T ngồi lên để người này điều khiển chạy đi tẩu thoát về hướng xã Vạn Bình. Khi chạy đến đoạn cầu Cống Lễ thuộc xã Vạn Bình, quan sát phía sau không có người truy đuổi nên T yêu cầu người thanh niên tấp xe lại để đổi tài, rồi điều khiển chạy đi. Khi chạy đến đoạn cầu Đồng Điền thì T cho người thanh niên đi cùng này xuống xe, một mình chạy xe đến đường bê tông ở khu vực xóm Cây Xoài, thuộc thôn Tứ Chánh, xã Vạn Bình thì T lấy điện thoại vừa trộm được ra tháo bỏ 02 sim có bên trong điện thoại và ốp lưng vứt xuống ruộng, sau đó mang điện thoại chạy xe về lại thị trấn Vạn Giã.
Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, T mang điện thoại trộm cắp được đến tiệm điện thoại “Phú Quý” ở Tổ dân phố số 01 – thị trấn Vạn Giã gặp Đặng Thị L là chủ tiệm cầm, cố được 1.300.000 đồng. Số tiền có được T tiêu xài cá nhân hết.
Đối với 02 sim di động gắn trong điện thoại SAMSUNG và ốp lưng, Trần Văn T khai đã tháo vứt xuống ruộng gần đường bê tông thuộc khu vực xóm Cây Xoài, thôn Tứ Chánh, xã Vạn Bình, nhưng lại không nhớ rõ vị trí cụ thể. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh không tiến hành truy tìm được.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 1029/KL-TCKH.TTHS ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vạn Ninh kết luận:
01 (một) điện thoại di dộng hiệu SAMSUNG A14 5G, kiểu máy: SM-A146P/DSN, màu tím, số Imei: 352976240714654, số Imei 2: 354045840714650, số seri R9WTCONOY8N có giá trị thiệt hại: 3.992.000 đồng (Ba triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng)
01 (một) ốp lưng loại dành cho điện thoại SAMSUNG A14 5G, màu trắng trong có giá trị thiệt hại: 72.000 đồng (Bảy mươi hai nghìn đồng)
02 (hai) cái sim điện thoại di động mạng Vinaphone và Mobiphone có giá trị thiệt hại: 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng).
Tổng giá trị thiệt hại là 4.144.000 đồng (Bốn triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
Đối với xe mô tô gắn biển số 79S1 – 2313 mà T sử dụng đi trộm cắp: T khai mượn của Nguyễn Thành Đ; trú: thôn Tân Dân 2, xã Vạn Thắng. Tuy nhiên, hiện tại Đ không có mặt tại địa phương, đang là đối tượng bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Vạn Ninh ra quyết định truy tìm trong vụ án khác, nên chưa làm việc được. Qua tra cứu thông tin về số khung, số máy, thì xe có biển số thật đăng ký là 60AK - 043.30, do Lý Hùng S; trú: Ấp Nhân Hòa, xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu, qua làm việc: Sơn khai nhận xe trước đây là tài sản của S, nhưng vào năm 2017 đã bán lại cho người khác, không nhớ rõ lai lịch. Còn biển số 79S1 – 2313, qua tra cứu là của xe mô tô do Lê Hữu P; trú: thôn Cổ Mã, xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh đứng tên, nhưng Phước đã chết vào năm 2010. Làm việc với Cao Thị M (vợ P), Mới xác nhận: xe trước đây từng là tài sản của vợ chồng M, nhưng vào khoảng thời gian trước năm 2010 đã bán lại cho người khác và không xác định được ai mua. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh đang tiếp tục tạm giữ xe mô tô 60AK - 043.30 và biển số 79S1 – 2313 để xác minh, làm rõ nguồn gốc.
Đối với Đặng Thị L khi nhận cầm, cố điện thoại SAMSUNG từ Trần Văn T, L không biết điện thoại này là do T trộm cắp được mà có, nên không có căn cứ để xử lý Đặng Thị L về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với người thanh niên mà Trần Văn T cho đi nhờ và điều khiển chở T tẩu thoát khi trộm cắp tài sản hiện tại chưa xác định được nhân thân, lai lịch Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh đang tiến hành điều tra làm rõ và xử lý sau.
Tại Bản Cáo trạng số: 23/CT-VKSVN ngày 08 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa:
+ Bị cáo Trần Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
+ Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01(một) năm 03(ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị hại Huỳnh Thị Uyển N; người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đặng Thị L, người làm chứng Lê Minh T, anh Lê Văn C vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vạn Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và của người làm chứng, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận hành vi của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng số 23/CT-VKSVN ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh thu thập được. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 10/10/2023 tại thôn Tân Dân 2, xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, Trần Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) điện thoại di dộng hiệu SAMSUNG A14 5G, kiểu máy: SM- A146P/DSN, màu tím, số Imei: 352976240714654, số Imei 2: 354045840714650, số seri R9WTCONOY8N, bên trong có gắn 02 (hai) sim điện thoại di động mạng Vinaphone, Mobiphone và 01 (một) ốp lưng của bà Huỳnh Thị Uyển N, có tổng trị giá: 4.144.000 đồng (Bốn triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
Theo quy định về tội “Trộm cắp tài sản” tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì: “1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ......., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.....”
Hành vi trên của bị cáo Trần Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo Trần Văn T là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bà Huỳnh Thị Uyển N được pháp luật bảo vệ; chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo Trần Văn T đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt tài sản là điện thoại di động trên của bà Huỳnh Thị Uyển N.
Bị cáo là người đã bị kết án 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số: 41/2019/HSST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2022, chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo đã không lấy đây là bài học sữa chữa lỗi lầm mà lại tiếp tục phạm tội mới. Do đó, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Điều đó chứng tỏ bị cáo không thật sự tự cải tạo mình để trở thành người công dân tốt. Nên cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, ngăn ngừa những hành vi tương tự.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại: Bà Huỳnh Thị Uyển N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ lời khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, bà Huỳnh Thị Uyển N đã nhận lại điện thoại di động SAMSUNG và không yêu cầu Trần Văn T phải bồi thường đối với thiệt hại là: 02 sim điện thoại và ốp lưng nên Hội đồng xét xử không xét.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ lời khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, bà Đặng Thị L không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 336; khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Trần Văn T.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T (Tên gọi khác: Tý Nga) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xét bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo Trần Văn T với bị hại Huỳnh Thị Uyển N, với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đặng Thị L.
- Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Ảnh |
Bản án số 26/2024/HSST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 26/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRẦN VĂN T
