1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH Bản án số:26/2024/HS-ST Ngày: 16-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Quý
Bà Trần Thị Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Điệp - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Hội Trường UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 26/12/1991. Tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Chức vụ, đảng phái: Không; Bố: Nguyễn Văn T1; Sinh năm 1960 (Đã chết); Mẹ: Trương Thị H; Sinh năm 1960; Hiện nay trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; A, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Thân Thị D; Sinh năm 1998 (Đã ly hôn); Con có 02 con, con lớn tuổi nhất sinh năm 2016; con nhỏ tuổi nhất sinh năm 2019; Tiền án: Có một tiền án: Ngày 22/02/20212, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 01 năm 03 tháng tù, theo Bản án số 05/2012/HSST, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đã chấp hành xong hình phạt, chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự, nên chưa được xóa án tích; Nhân thân: Ngày 08/9/2020, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 24 tháng tù, theo Bản án số 69/2020/HSST, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. (đã xóa án tích); Tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Nguyễn Văn T bị tạm giam từ ngày 16/04/2024 cho đến nay.
2
II. Những người tham gia tố tụng:
Bị hại: Bà Đặng Thị B; sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: lao động tự do (có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị H1; sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề Nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
- Anh Trần Văn V; sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề Nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Tiến X, sinh năm 1973, trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề Nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Đình C; sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề Nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
- Anh Hoàng Nhật V1; sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề Nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)
- Chị Trần Thị Thúy A, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2006; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/02/2024, Nguyễn Văn T đi bộ đến nhà chị Đặng Thị B, sinh năm 1973, ở thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh gặp chị B nói dối cho T mượn xe mô tô của chị B đi lên xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh có việc riêng tý, rồi quay về trả lại ngay. Vì là hàng xóm, nên chị B tin lời của T và đồng ý cho T mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1-337.95 của gia đình mình. Sau khi được chị B cho mượn xe mô tô biển kiểm soát 38K1-337.95, T không sử dụng đi như mục đích đã nói với chị B mà điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38K1-337.95 đến quán K, của chị Trần Thị H1, sinh năm 1977, trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh làm chủ quán, đặt vấn đề với Chị H1 gửi chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1-337.95 tại quán chị H1 làm tài sản đảm bảo và vay 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), để đi giải quyết việc riêng thì chị H1 đồng ý đưa cho T 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi nhận tiền từ chị H1, T để xe mô tô nói trên lại tại quán chị H1, rồi lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Tối cùng ngày T mượn điện thoại của anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1997, trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh gọi điện nói dối với chị B xe bị tai nạn, Công an đang thu giữ chưa đưa trả lại được. Tiếp đó khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/02/2024, Nguyễn Văn T đến gặp chị H1 và nói với chị H1 cho T lấy chiếc xe mô tô gửi hôm qua đưa đi cầm cố lấy tiền về trả lại cho chị H1, thì chị H1 đồng ý. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38K1-337.95 đến quán ăn của anh Trần Văn V, sinh năm 1986, trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh gặp anh V, nói đang cần tiền có việc riêng cho T gửi chiếc
3
xe mô tô biển kiểm soát 38K1-337.95 lại và vay anh V 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), giải quyết việc riêng thì anh V đồng ý đưa cho T 1.00.000 đồng (Một triệu đồng). Sau khi lấy tiền, T để xe mô tô lại rồi đến gặp chị H1 trả số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) vay ngày hôm qua, số còn lại T tiêu xài cá nhân hết. Sau khi tiêu hết tiền, khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T tiếp tục nhờ Hoàng Nhật V1, sinh năm 1993, trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh chở đến gặp anh Trần Văn V, nói dối có việc cần tiền vay thêm 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) thì anh V đồng ý cho T vay thêm 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) rồi lấy chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 23/02/2024 anh Nguyễn Tiến X (Chồng chị B) đến nhà tìm gặp T để lấy xe mô tô về nhưng T không có mặt ở nhà và không liên hệ được, đến ngày 24/02/2024 Nguyễn Văn T không đưa xe mô tô về trả lại cho chị Đặng Thị B và biết được T đưa xe mô tô của mình đi cầm cố lấy tiền chi tiêu nên chị B đã làm đơn trình báo Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Cùng ngày Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh triệu tập Nguyễn Văn T lên làm việc, tại Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, đỏ biển kiểm soát 38K1-337.95, số khung C6K0GY266012, số máy 5C6K266015 mà Nguyễn Văn T chiếm đoạt nói trên mang tên Nguyễn Tiến X, sinh năm 1973, trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Chồng chị Đặng Thị B)
Theo kết luận định giá số 15/KL-HĐĐG ngày 11/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện K kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, đỏ biển kiểm soát 38K1-337.95, số khung C6K0GY266012, số máy 5C6K266015, đăng ký ngày 24/02/2016, trị giá 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).
* Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, đỏ biển kiểm soát 38K1-337.95, thu của anh Trần Văn V nay đã trả lại cho chủ sở hữu chị Đặng Thị B (Vợ anh Nguyễn Tiến X).
* Về dân sự: Bị hại chị Đặng Thị B yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), chi phí đi tìm kiếm xe mô tô. Hiện nay bị cáo Nguyễn Văn T chưa bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Còn đối với khoản tiền 1.400.00₫ mà bị cáo T cầm cố tại Anh Trần Văn V nay anh V không yêu cầu bị cáo trả lại; chị Trần Thị H1 đã lấy lại số tiền 500.000đ từ bị cáo T, nay không có yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKS-TPHT ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T từ 8 đến 11
4
tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam; Hình phạt bổ sung: Không; Ngoài ra còn đề nghị xử lý về biện pháp tư pháp.
Tại phần tranh luận, bị cáo, bị hại, không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/02/2024, Nguyễn Văn T đi đến nhà chị Đặng Thị B, sinh năm 1973, ở thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, đưa ra thông tin gian dối làm chị Đặng Thị Bích t là thật, từ đó chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 38K1-337.95, trị giá 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) của gia đình chị Đặng Thị B đưa đi cầm cố lấy 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) chi tiêu cá nhân mà không đưa xe mô tô về trả lại cho chị B như đã hứa hẹn. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo có một tiền án và một nhân thân cụ thể: Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 01 năm 03 tháng tù, theo Bản án số 05/2012/HSST, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đã chấp hành xong hình phạt, nhưng chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự, nên chưa được xóa án tích; Nhân thân: Ngày 08/9/2020, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 24 tháng tù, theo Bản án số 69/2020/HSST, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm (đã xóa án tích), nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, mà nay tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại xin
5
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp, bị cáo đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là thỏa đáng. Về biện pháp tư pháp đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy thu số tiền 1.400.000đ từ bị cáo Nguyễn Văn T là không phù hợp. Bởi lẽ: giao dịch dân sự giữa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn V và bị cáo Nguyễn Văn T vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật và do bị lừa dối nên theo quy định tại Điều 123, 127, 131 Bộ luật dân sự, bị cáo Nguyễn Văn T phải trả lại số tiền 1.400.000đ cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn V. Nhưng anh Trần Văn V đã có đơn không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 1.400.000 đồng. Vì vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 194 Bộ luật Dân sự, HĐXX không tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.400.000 đồng từ bị cáo T như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Nếu sau này anh Trần Văn V có yêu cầu đòi lại số tiền này thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra bị hại Đặng Thị B yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 500.000đ chi phí cho việc đi tìm bị cáo T để lấy lại xe, nhưng tại phiên toà bà B rút yêu cầu nên miễn xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Anh Trần Văn V có đơn không yêu cầu bị cáo T trả lại số tiền 1.400.000₫ nên miễn xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị H1 đã lấy lại số tiền 500.000đ từ bị cáo T, nay không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
[7] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, đỏ biển kiểm soát 38K1-337.95, thu của anh Trần Văn V nay đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Tiến X (chồng của chị Đặng Thị B)là có căn cứ.
[8] Những vấn đề liên quan khác: Đối với chị Trần Thị H1 và anh Trần Văn V đã cho Nguyễn Văn T gửi xe mô tô chiếm đoạt được mà có lại để vay tiền lấy chi tiêu cá nhân. Quá trình điều tra xác định những người này không biết tài sản do T phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ về hành vi cầm cố tài sản cho Đội quản lý hành chính Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh xử lý hành chính theo thẩm quyền.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Bị cáo, bị hại, ngừoi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 điều 23, khoản 1, khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt Nguyễn Văn T 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (16/4/2024)
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quang Dũng |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
