|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HSST
Ngày 07/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Anh.
Ông Nguyễn Văn Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Trang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà:
Ông Trình Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên mở phiên toà trực tuyến công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N
Sinh ngày: 26/3/2005 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn D, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp ổn định; Trình độ học vấn: 3/12; Cha không rõ, mẹ Nguyễn Thị H - sinh năm: 1979; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/9/2023 có hành vi trộm cắp tài sản tại thành phố T, hiện nay cơ quan CSĐT Công an thành phố T đang thụ lý giải quyết. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Ông Nguyễn Đình T1 – Sinh năm: 1957; Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N (Bào chữa trợ giúp pháp lý): Luật sư Ngô Thiên P – Luật sư ký hợp đồng của Trung tâm TGPLNN tỉnh P và bà Nguyễn Thị Khánh D – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPLNN tỉnh P. Bà Khánh D có mặt, ông P vắng mặt có gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1979; Trú tại: Thôn D, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Đình T2 – Sinh năm: 1987; Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Đình T3 – Sinh năm: 1985; Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- Phan Thị Hồng Q – Sinh năm: 1992; Trú tại: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
Tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn N thường xuyên đi làm thuê tại thành phố N- tỉnh Khánh Hòa. Sáng ngày 12/7/2024, N đi tàu hỏa từ ga N đến ga P thuộc thôn L- xã X- huyện Đ để về nhà của mình ở thôn D - xã X. Đến khoảng 11h00' cùng ngày, N xuống tàu tại ga P và đi bộ trên tuyến đường Q để về nhà. Khi đi ngang qua nhà của anh Nguyễn Đình T1 ở thôn L- xã X phát hiện xe mô tô BKS: 78K1 - 267.17 của anh T1 đang dựng phía trước sân nhà và có gắn sẵn chìa khóa trên ổ khóa. N lén lút lấy mũ bảo hiểm đang treo trên tay lái xe rồi bật khóa điều khiển chiếc xe này về hướng thôn D. Khi đến đoạn đường giáp ranh giữa thôn L và thôn D- xã X, N tháo và ném mũ bảo hiểm xuống đường rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô về cất giấu ở nhà của mình thì bị Công an xã X phát hiện.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 19/KL-ĐGTTHS ngày 13/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Đ, kết luận: Xe mô tô BKS: 78K1 - 267.17 trị giá 12.000.000 đồng, chiếc mũ bảo hiểm không có cơ sở để định giá.
Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKSĐX ngày 01/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Nghĩa về tội: "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Kết luận bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo, xử phạt: Nguyễn Văn N từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 13/7/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất. Tại phiên tòa, người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác, nên đề nghị HĐXX không xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Trả lại cho bị cáo 01 (một) cái áo khoác dài tay bằng vải màu đen có mũ trùm đầu; 01 (một) cái quần đùi lửng bằng vải Kaki màu Vàng – Xám; 01 (một) cái ba lô bằng vải màu tím, trên bề mặt có in ký hiệu chữ “A” màu trắng đỏ và dòng chữ “ THE DAY YOU WENT AWAY” màu trắng.
- Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai phù hợp với nội dung bản Cáo trạng. Bị cáo xin Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
- Những người bào chữa cho bị cáo thống nhất về mặt tội danh cũng như về điều luật, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa Nguyễn Thị Khánh D đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm cho bị cáo Điều 65 BLHS, cho bị cáo được hưởng án treo.
- Người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm làm người có ích cho xã hội. Tài sản bị mất đã được trả lại, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản thiệt hại nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng nhưng xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 BLTTHS.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11h00' ngày 12/7/2024, tại thôn L, xã X, huyện Đ, Nguyễn Văn N đã lén lút lấy trộm xe mô tô trị giá 12.000.000 đồng của anh Nguyễn Đình T1, nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội: "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân ở địa phương. Ngoài lần phạm tội này thì vào ngày 28/9/2023 bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản tại thành phố T, hiện nay cơ quan CSĐT Công an thành phố T đang thụ lý giải quyết. Do đó, cần xét xử bị cáo một hình phạt tù nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên xử phạt bị cáo ở mức án thấp của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta mà an tâm cải tạo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, xã hội như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp. Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo quy định tại Điều 65 BLHS, HĐXX xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không chí thú làm ăn, ngoài lần phạm tội này thì bị cáo còn có hành vi trộm cắp tài sản tại thành phố T, nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo hiện bị tạm giam, không có thu nhập nên xét miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, tại phiên tòa, người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác, nên HĐXX không xét giải quyết.
[5] Về vật chứng vụ án: 01 (một) cái áo khoác dài tay bằng vải màu đen có mũ trùm đầu; 01 (một) cái quần đùi lửng bằng vải Kaki màu Vàng – Xám; 01 (một) cái ba lô bằng vải màu tím là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên trả lại cho bị cáo.
[6] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí HSST theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: "Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn N. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 13/7/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo 01 cái áo khoác dài tay bằng vải, 01 cái quần đùi lửng bằng vải kaki màu vàng xám, 01 cái ba lô bằng vải màu tím.(Các vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Chi cục THADS huyện Đ).
Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST đối với bị cáo Nguyễn Văn N.Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Vĩnh Long |
Bản án số 26/2024/HSST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 26/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
