TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HS-ST
Ngày: 28 – 6 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Minh
- Bà Lê Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Đồng Mây Hồng Tuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 29/5/2024 đối với bị cáo:
Trần Văn H (tên thường gọi khác: Được), sinh năm 1975 tại Thái Bình; Nơi cư trú: Khu phố I, phường P, Thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C (đã chết) và bà Trịnh Thị S; có vợ là Nguyễn Thị H1 và con là Trần Nguyễn Tân X và Trần Nguyên Đ; tiền án: không có; tiền sự: không có. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên tòa)
Người làm chứng:
- Huỳnh Thị H2, sinh năm 1983. (vắng mặt)
- Võ Thị Ngọc T, sinh năm 1995. (vắng mặt)
- Huỳnh Thị Ú, sinh năm 2000. (vắng mặt)
- Nguyễn Thị L, sinh năm 1988. (vắng mặt)
- Tống Thị C1, sinh năm 1982. (vắng mặt)
- Bùi Ngọc N, sinh năm 1999. (vắng mặt)
- Trần Thị V, sinh năm 1989. (vắng mặt)
- Tống Thị Thanh K, sinh năm 1979. (vắng mặt)
- Lê Thị H3, sinh năm 1985. (vắng mặt)
- Tống Thị G, sinh năm 1987. (vắng mặt)
- Đặng Thị Thanh L1, sinh năm 1986. (vắng mặt)
- Nguyễn Thị L, sinh năm 2000. (vắng mặt)
- Phan Thị H4, sinh năm 1981. (vắng mặt)
- Huỳnh Thị H2, sinh năm 1976. (vắng mặt)
- Nguyễn Thị N1, sinh năm 1995. (vắng mặt)
- Võ Thị Ngọc T1, sinh năm 2000. (vắng mặt)
- Võ Ngọc C2, sinh năm 2002. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Lê Thị H5, sinh năm1983. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố B, phường V, Thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Huỳnh Xuân H6, sinh năm 1988. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố G, phường P, Thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Nguyễn Đinh K1, sinh năm 1983. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố G, phường V, Thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Nguyễn Đình T2, sinh năm 1985. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố F, phường Đ, Thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Nguyễn Thị T3, sinh năm 1981. (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/11/2023, khi đang đi làm, chị Võ Thị Ngọc T1, sinh năm: 2000, trú tại: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận nghe tin có người đến nhà đòi tiền nợ mẹ mình là bà Huỳnh Thị H2, sinh năm: 1983, trú tại: thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận nên chị T1 về nhà thì gặp Trần Văn H, sinh năm: 1975, trú tại: khu phố I, phường P, thành phố P - T đang đứng trước nhà mình nên chị T1 đến nói chuyện với Hay thì bị Nguyễn Đình T2, sinh năm: 1985, trú tại: Khu phố F, phường Đ, thành phố P-T là người đi cùng H đánh một cái vào mặt. Sau đó, chị T1 báo cho Công an xã P. Công an xã P đã đưa Trần Văn H về trụ sở làm việc. Tại Công an xã P, Trần Văn H khai nhận dùng xe mô tô 18F8-7700 và điện thoại di động cảm ứng hiệu ViVo Y16 làm phương tiện đi đến địa bàn thôn H, xã P và liên lạc để cho nhiều người dân ở thôn H, xã P, huyện N vay tiền với lãi suất ngày là 0,67%/ngày, lãi suất năm là 240%/năm, vượt quá 05 lần mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 để hưởng lợi bất chính cụ thể:
Qua điều tra xác định từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2023 Trần Văn H đã cho 28 người dân trên địa bàn huyện N, T và thành phố P - T vay tiền với hình thức vay trả góp, số tiền vay từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, trả góp lãi và gốc hàng ngày trong vòng 30 ngày với mức lãi suất là 240%/năm, với tổng số tiền đã cho vay 499.500.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu được là 87.680.000 đồng. Trong tổng số 28 người vay trên Cơ quan Cảnh sát điều tra chứng minh được 16 người vay, với tổng số tiền gốc đã cho vay là 310.500.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu được 55.366.677 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp 20% theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015 là 5.091.667 đồng, số lãi bất hợp pháp mà Trần Văn H thu lợi bất chính là 50.275.000 đồng. Cụ thể như sau:
| STT | Tên người vay | Ngày vay | Số tiền vay | Lãi suất năm (%) | Tiền lãi | Thu lợi bất chính | |
| 20% theo blds | |||||||
| 1 | Huỳnh Thị Hoa, SN: 1983, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 02/4/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 21/4/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 11/5/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 29/5/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 21/6/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 09/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 26/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 05/9/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 450,000 | |||
| 05/9/2023 | 5,000,000 | 240 | |||||
| TLBC | 666,667 | 6,866,667 | |||||
| 2 | Nguyễn Thị Ngoan, SN: 1995, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 02/4/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 22/4/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 11/5/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 27/5/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 13/6/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 27/6/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 183,333 | |||
| TLBC | 500,000 | 4,766,667 | |||||
| 3 | Lê Thị Hợi, SN: 1985, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 12/4/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 14/5/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 29/5/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 18/6/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| TLBC | 333,333 | 3,666,667 | |||||
| 4 | Võ Thị Ngọc Tâm, SN: 1995, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 28/4/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 16/5/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 06/6/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 29/6/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 15/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| TLBC | 416,667 | 4,583,333 | |||||
| 5 | Huỳnh Thị Hoa, SN: 1976, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 26/4/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 14/5/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 29/5/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 18/6/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 08/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 26/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 116,667 | |||
| TLBC | 500,000 | 4,700,000 | |||||
| 6 | Phan Thị Hạnh, SN: 1981, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 25/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 14/8/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 06/9/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 23/9/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 183,333 | |||
| TLBC | 333,333 | 2,933,333 | |||||
| 7 | Huỳnh Thị Út, SN: 2000, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 09/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 31/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 29/8/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 10/10/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 683,333 | |||
| TLBC | 333,333 | 3,433,333 | |||||
| 8 | Nguyễn Thị Lụm, SN: 1988, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh | 25/7/2023 | 2,500,000 | 240 | 41,667 | 458,333 | |
| 24/8/2023 | 2,500,000 | 240 | 41,667 | 458,333 | |||
| 16/9/2023 | 2,500,000 | 240 | 41,667 | 458,333 | |||
| 08/10/2023 | 2,500,000 | 240 | 41,667 | 458,333 | |||
| 27/10/2023 | 2,500,000 | 240 | 41,667 | 458,333 | |||
| TLBC | 208,333 | 2,291,667 | |||||
| 9 | Đặng Thị Thanh Lan, SN: 1986, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 08/7/2023 | 2,000,000 | 240 | 33,333 | 366,667 | |
| 21/10/2023 | 2,500,000 | 240 | 41,667 | 458,333 | |||
| 10 | Nguyễn Thị Trung, SN: 1981, thôn 3, xã Nhị Hà, Thuận Nam | 240 | |||||
| 08/11/2023 | 2,500,000 | 240 | 41,667 | 91,667 | |||
| TLBC | 83,333 | 550,000 | |||||
| 11 | Tống Thị Cạnh, SN: 1982, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 09/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 29/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 10/10/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 26/10/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| TLBC | 333,333 | 3,666,667 | |||||
| 12 | Tống Thị Thanh Khanh, SN: 1979, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 09/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 26/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 22/9/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 3/10/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 25/10/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 250,000 | |||
| TLBC | 416,667 | 3,916,667 | |||||
| 13 | Tống Thị Gần, SN: 1987, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 11/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 26/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 26/9/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 23/10/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 116,667 | |||
| TLBC | 333,333 | 2,866,667 | |||||
| 14 | Bùi Ngọc Ngà, SN: 1999 trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 23/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 6/8/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 20/8/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 5/9/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 19/9/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 383,333 | |||
| TLBC | 416,667 | 4,050,000 | |||||
| 15 | Trần Thị Vẹn, SN: 1989, trú | 20/10/2023 | 3,000,000 | 240 | 50,000 | 550,000 | |
| 4/11/2023 | 3,000,000 | 240 | 50,000 | 150,000 | |||
| TLBC | 100,000 | 700,000 | |||||
| 16 | Nguyễn Thị Lụm, SN: 2000, trú tại: Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước | 8/4/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |
| 4/5/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 5/7/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 2/9/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 916,667 | |||
| 12/10/2023 | 5,000,000 | 240 | 83,333 | 316,667 | |||
| TLBC | 416,667 | 3,983,333 | |||||
| Tổng cộng: | 310,500,000 | 5,091,667 | 50,275,000 | ||||
Cáo trạng số 29/CT-VKS-HS ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát huyện N, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T4 từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung: phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng nộp sung quỹ Nhà nước.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX tuyên:
- 01 (Một) xe mô tô hiệu Ware, biển kiểm soát 18F8-7700, số máy: C09E-6185280, số khung: Y-185294 là xe của anh Huỳnh Xuân H6, sinh năm: 1988, trú tại: Khu phố G, phường P, thành phố P - T mua lại của ông Nguyễn Đình K2, sinh năm: 1983, trú tại: Khu phố G, phường V, thành phố P - T. H6 đã cho Trần Văn H mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại từ năm 2022, anh H6 không biết việc Trần Văn H sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả cho anh Huỳnh Xuân H6 là có căn cứ.
- 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu VIVO Y16, màu trắng số IMEI1: 865717063255940; số IMEI2: 865717063255957. Quá trình điều tra xác định đây là điện thoại của Trần Văn H sử dụng làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là đúng quy định của pháp luật.
- 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu APPO, màu đen số IMEI1: 863880047099495; số IMEI2: 863880047099487. Đây là tài sản của Trần Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo H, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho Trần Văn Hay 1 có cơ sở.
- Số tiền bị tạm giữ là 5.785.000 đồng, trong đó gồm:
- Số tiền 1.500.000 đồng là tiền của H đi làm phụ hồ không liên quan đến hoạt động vay nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên trả lại cho Trần Văn H.
- Số tiền 3.935.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tiền của bà Lê Thị H5, sinh năm: 1983, trú tại: Khu phố B, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nhờ Trần Văn H mua bia về cho H5 bán quán, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho Lê Thị H5 là có căn cứ.
- Số tiền 350.000 đồng quá trình điều tra Trần Văn H khai nhận đây là tiền thu lãi còn lại thu được của một số người vay tại thôn H, xã P, huyện N, nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ. Tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.
- Đối với số tiền gốc 310.500.000 đồng Trần Văn H đã cho 16 người vay, quá trình điều tra những người này đều thừa nhận đến nay đã trả hết cho Hay, nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo H phải nộp lại toàn bộ số tiền trên để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Về dân sự: Trong quá trình điều tra chị Huỳnh Thị H2 (sinh 1983), Nguyễn Thị N1, Lê Thị H3, Võ Thị Ngọc T5, Huỳnh Thị H2 (sinh 1976), Phan Thị H4, Huỳnh Thị Ú, Nguyễn Thị L (sinh 1988), Đặng Thị Thanh L1, Nguyễn Thị T3, Tống Thị C1, Tống Thị Thanh K, Tống Thị G, Bùi Thị N2, Trần Thị V, Nguyễn Thị L (sinh 2000) đều không có yêu cầu về mặt dân sự, không yêu cầu bị can Trần Văn H trả lại số tiền mà H đã thu lợi bất chính nên không xem xét đến. Riêng đối với 12 người vay chưa làm việc được nên chưa có yêu cầu, khi nào người vay có yêu cầu thì đề nghị khởi kiện để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
- Đối với đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 85V5-3918; Chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn T6; Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Nhật T7; Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Ngọc T8, quá trình điều tra chưa có căn cứ xác định những người này có liên quan đến việc vay mượn tiền của Trần Văn H nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ khi có căn sẽ xử lý sau.
- 20 tờ giấy gồm (phiếu thu tiền, phiếu nộp tiền, giấy cam kết mượn tiền, sổ ghi chép), theo biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử lập ngày 16/11/2023. Quá trình điều tra xác định đây là tài liệu liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng của Trần Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra đưa các tài liệu này vào hồ sơ vụ án để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử là có căn cứ.
- Đối với 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu VIVO Y16, màu xám, số hiệu máy VIVO1904, của Nguyễn Đình T2, sinh năm: 1985, trú tại: Khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận, quá trình điều tra xác định T2 không liên quan đến việc vi phạm pháp luật của Trần Văn H. Hành vi dùng tay tát vào mặt chị Võ Thị Ngọc T1, sinh năm: 2000, trú tại: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận của Nguyễn Đình T2, chị T1 không yêu cầu giám định và không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét đến. Tuy nhiên, hành vi của T2 đã vi phạm điểm a, khoản 1, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tách chuyển điện thoại cùng tài liệu, hồ sơ liên quan đến Công an xã P, huyện N để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đình T2 theo quy định của pháp luật.
- Quá trình điều tra, xác định trong vụ án này có Lê Thị H5, SN: 1983, trú tại: Khu phố B, phường V, thành phố P - T là người quen biết đi cùng H. Tuy không biết việc H cho vay lãi nặng, nhưng Lê Thị H5 vào ngày 15/11/2023, H5 được H nhờ đi cùng để nói chuyện đòi nợ Huỳnh Thị H2 (Bé H7) quá trình nói chuyện với Huỳnh Thị H2 đã xảy ra giằng co và cãi nhau, H5 đã vung tay trúng mặt bà H2. Hành vi của H5 đã vi phạm điểm a, khoản 1, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tách chuyển tài liệu, hồ sơ liên quan đến Công an xã P, huyện N để xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Thị H5 theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa, không tranh luận gì. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nên đủ cơ sở kết luận: Chỉ vì tham lam, muốn hưởng lợi bất chính nên trong thời gian từ ngày 02 tháng 04 năm 2023 đến ngày 16 tháng 11 năm 2023, Trần Văn H đã cho hơn 28 người trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận vay tiền với lãi suất 240%/năm (lãi suất gấp 12 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự), trong số đó Cơ quan điều tra đã chứng minh, làm việc được 16 người vay, qua đó xác định H đã cho vay tổng số tiền 310.500.000 đồng, thu lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 5.091.667 đồng và thu lợi bất chính 50.275.000 đồng.
Vì vậy, hành vi nêu trên của Trần Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hay là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi cho vay với lãi suất cao gấp nhiều lần của mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự là vi phạm pháp luật. Nên cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- [3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần thiết áp dụng một hình phạt nghiêm minh trước pháp luật nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, do bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội không mang tính chất chuyên nghiệp và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Nhưng cần áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để bị cáo biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội tại địa phương.
Do đã áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nên HĐXX không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- [4] Về xử lý vật chứng:
- 01 (Một) xe mô tô hiệu Ware, biển kiểm soát 18F8-7700, số máy: C09E-6185280, số khung: Y-185294 là xe của anh Huỳnh Xuân H6, sinh năm: 1988, trú tại: Khu phố G, phường P, thành phố P - T mua lại của ông Nguyễn Đình K2, sinh năm: 1983, trú tại: Khu phố G, phường V, thành phố P - T. H6 đã cho Trần Văn H mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại từ năm 2022, anh H6 không biết việc Trần Văn H sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả cho anh Huỳnh Xuân H6 là có căn cứ.
- 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu APPO, màu đen số IMEI1: 863880047099495; số IMEI2: 863880047099487. Đây là tài sản của Trần Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo H, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho Trần Văn Hay 1 có căn cứ.
- 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu VIVO Y16, màu trắng số IMEI1: 865717063255940; số IMEI2: 865717063255957. Quá trình điều tra xác định đây là điện thoại của Trần Văn H sử dụng làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là đúng theo quy định của pháp luật.
- Số tiền bị tạm giữ là 5.785.000 đồng, trong đó gồm:
- Số tiền 1.500.000 đồng là tiền của H đi làm phụ hồ không liên quan đến hoạt động vay. Tuy nhiên, trong vụ án này buộc bị cáo phải nộp sung quỹ Nhà nước tiền thực hiện hành vi phạm tội, tiền thu lợi bất chính và tiền phát sinh từ tội phạm nên cần thiết phải tiếp tục tạm giữ số tiền 1.500.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
- Số tiền 3.935.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tiền của bà Lê Thị H5, sinh năm: 1983, trú tại: Khu phố B, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nhờ Trần Văn H mua bia về cho H5 bán quán, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho chị Lê Thị H5 là có căn cứ.
- Số tiền 350.000 đồng quá trình điều tra Trần Văn H khai nhận đây là tiền thu lãi còn lại thu được của một số người vay tại thôn H, xã P, huyện N, nên tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ. Tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.
- Đối với số tiền gốc 310.500.000 đồng Trần Văn H đã cho 16 người vay, quá trình điều tra những người này đều thừa nhận đến nay đã trả hết cho Hay, nên buộc bị cáo H phải nộp lại toàn bộ số tiền trên để tịch thu sung công quỹ Nhà nước là đúng quy định pháp luật.
- [5] Về dân sự:
Trong quá trình điều tra chị Huỳnh Thị H2 (sinh 1983), Nguyễn Thị N1, Lê Thị H3, Võ Thị Ngọc T5, Huỳnh Thị H2 (sinh 1976), Phan Thị H4, Huỳnh Thị Ú, Nguyễn Thị L (sinh 1988), Đặng Thị Thanh L1, Nguyễn Thị T3, Tống Thị C1, Tống Thị Thanh K, Tống Thị G, Bùi Thị N2, Trần Thị V, Nguyễn Thị L (sinh 2000) đều không có yêu cầu về mặt dân sự, không yêu cầu bị can Trần Văn H trả lại số tiền mà H đã thu lợi bất chính nên không xem xét đến. Riêng đối với 12 người vay chưa làm việc được nên chưa có yêu cầu, khi nào người vay có yêu cầu khởi kiện sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
- [6] Đối với đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 85V5-3918; Chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn T6; Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Nhật T7; Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Ngọc T8, quá trình điều tra chưa có căn cứ xác định những người này có liên quan đến việc vay mượn tiền của Trần Văn H, nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ khi có căn sẽ xử lý sau là có căn cứ.
- [7] Đối với 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu VIVO Y16, màu xám, số hiệu máy VIVO1904, của Nguyễn Đình T2, sinh năm: 1985, trú tại: Khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận, quá trình điều tra xác định T2 không liên quan đến việc vi phạm pháp luật của Trần Văn H. Hành vi dùng tay tát vào mặt chị Võ Thị Ngọc T1, sinh năm: 2000, trú tại: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận của Nguyễn Đình T2, chị T1 không yêu cầu giám định và không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét đến. Tuy nhiên, hành vi của T2 đã vi phạm điểm a, khoản 1, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tách chuyển điện thoại cùng tài liệu, hồ sơ liên quan đến Công an xã P, huyện N để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đình T2 theo quy định của pháp luật là đúng.
- [8] Quá trình điều tra, xác định trong vụ án này có Lê Thị H5, SN: 1983, trú tại: Khu phố B, phường V, thành phố P - T là người quen biết đi cùng H. Tuy không biết việc H cho vay lãi nặng, nhưng Lê Thị H5 vào ngày 15/11/2023, H5 được H nhờ đi cùng để nói chuyện đòi nợ Huỳnh Thị H2 (Bé H7) quá trình nói chuyện với Huỳnh Thị H2 đã xảy ra giằng co và cãi nhau, H5 đã vung tay trúng mặt bà H2. Hành vi của H5 đã vi phạm điểm a, khoản 1, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tách chuyển tài liệu, hồ sơ liên quan đến Công an xã P, huyện N để xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Thị H5 theo quy định của pháp luật là đúng.
- [9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 201; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36; Điều 35 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Được) phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an Thành phố P – T nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Văn H cho UBND phường P, Thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn H phải nộp 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) sung vào công quỹ Nhà nước.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Văn H.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu VIVO Y16, màu trắng số IMEI1: 865717063255940; số IMEI2: 865717063255957.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, ngày 17/5/2024 giữa Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước)
- Buộc Trần Văn H nộp lại để tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 365.866.667 đồng (Ba trăm sáu mươi năm triệu, tám trăm sáu mươi sáu ngàn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Trong đó: Tiền gốc là 310.500.000 đồng; T9 thu lợi bất chính là 50.275.000 đồng; Tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự là 5.091.667 đồng.
Tiếp tục tạm giữ của Trần Văn H số tiền 1.850.000 đồng (Một triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng) để đảm bảo thi hành án.
(Ủy nhiệm chi ngày 16/5/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước)
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/6/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Cường |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) Phạm Ngọc Minh Lê Thị Hường | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Vũ Văn Cường |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
