Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH HÀ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày: 23/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nhân
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Thành và bà Nguyễn Thị Kiều Hương.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Bạch Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Quý, Kiểm sát viên.

Vào hồi 14 giờ 15 phút, ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 07/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS, ngày 04/4/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/HSST-QĐ, ngày 24/4/2024 đối với bị cáo:

  • * Họ và tên: Dương Sỹ T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/7/1989, tại xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Dương Sỹ H(Đã chết); Con bà Nguyễn Thị L; Sinh năm 1963; A, em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trần Thị Linh P; Sinh năm 1988; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: 02 con (sinh đôi, ngày 15/5/2024);
  • - Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2021/HS-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt Dương Sỹ T 06(sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Đánh bạc”; Dương Sỹ T hành xong thời gian thử thách ngày 08/9/2022 nhưng chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, đến ngày 04/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cđi khỏi nơi cư trú cho đến nay, hiện đang trú tại thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

2

  • + Anh Nguyễn S T1sinh năm 1972; Nơi cư trú: thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
  • + Chị Trần Thị Linh P; sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ tháng 11/2022 đến ngày 26/12/2023, tại thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh Dương Sỹ T đã 02 lần sử dụng nguồn tiền của cá nhân để thực hiện hành vi Cho vay lãi nặng đối với anh Nguyễn S T1sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh Cụ thể như sau:

  • * Lần thứ nhất: Vào tháng 11/2022, anh Nguyễn Sỹ T gặp Dương Sỹ T hỏi vay số tiền 20.000.000 đồng thì T ý, hai bên thỏa thuận mức lãi suất là 5.000.000 đồng/01 tháng, tiền lãi trả vào ngày cuối tháng (không thống nhất cụ thể ngày nào), việc đóng lãi chuyển vào tài khoản Ngân hàng T số 19033009393011 mang tên Dương Sỹ T khi thống nhất về số tiền vay và lãi suất như trên Dương Sỹ T cắt lãi 5.000.000 đồng và đưa tiền mặt cho anh Nguyễn S T1số tiền 15.000.000 đồng, khi đó không viết giấy vay mượn tiền.

Đối với khoản vay này, hàng tháng anh Nguyễn S T1đóng lãi không đều, tháng thừa, tháng thiếu, tháng có, tháng không (để bù trừ các tháng với nhau), cụ thể như sau: tháng 11/2022 anh T1trả lãi 5.000.000 đồng (Dương Sỹ T trừ vào tiền gốc khi vay); tháng 12/2022 anh T1trả lãi 2.000.000 đồng; tháng 01/2023, anh T1trả lãi 3.000.000 đồng; tháng 02/2023, anh T1trả lãi 7.000.000 đồng; tháng 3/2023, anh T1trả lãi 5.000.000 đồng; tháng 6/2023, anh T1trả lãi 10.000.000 đồng; tháng 10/2023, anh T1trả lãi 3.000.000 đồng; tháng 12/2023, anh T1trả lãi 5.000.000 đồng. Tổng số tiền anh Nguyễn S T1đã trả lãi cho khoản vay này là 40.000.000 đồng.

  • * Lần thứ hai: Ngày 21/3/2023, anh Nguyễn S T1tiếp tục đến nhà Dương Sỹ T thêm số tiền 40.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận mức lãi suất là 12.000.000 đồng/01 tháng, tiền lãi trả vào ngày cuối tháng (không thống nhất cụ thể ngày nào), việc đóng lãi chuyển vào tài khoản Ngân hàng T số 19033009393011 mang tên Dương Sỹ T khi thống nhất về số tiền vay và lãi suất như trên, Dương Sỹ T cắt lãi 12.000.000 đồng và sử dụng tài khoản Ngân hàng T số 19033009393011 chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng S số [...] của anh Nguyễn S T1số tiền 28.000.000 đồng, khoản vay này cũng không viết giấy vay mượn tiền.

Đối với khoản vay này, hàng tháng anh Nguyễn S T1đóng lãi không đều, tháng thừa, tháng thiếu, tháng có, tháng không (để bù trừ các tháng với nhau), cụ thể như sau: tháng 3/2023, anh T1trả lãi 12.000.000 đồng (Dương Sỹ T trừ vào tiền gốc khi vay); tháng 6/2023 anh T1trả lãi 30.000.000 đồng; tháng 10/2023,

3

anh T1trả lãi 5.000.000 đồng; tháng 12/2023, anh T1trả lãi 5.000.000 đồng. Tổng số tiền anh Nguyễn S T1đã trả lãi cho khoản vay này là 52.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Đối với khoản vay 20.000.000 đồng: Từ tháng 11/2022 đến thời điểm Dương Sỹ T thú, anh Nguyễn S T1phải trả lãi cho T là 13 tháng, nếu đóng đủ thì số tiền lãi mà anh T1phải trả cho T: 5.000.000 đồng x 13 tháng = 65.000.000 đồng, tương ứng với mức lãi suất 25%/tháng (300%/năm), mức lãi suất này cao gấp 15 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch cho vay dân sự (Khoản 1, Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, ...”). Số tiền lãi mà Dương Sỹ T được phép thu của khoản vay này theo quy định của Bộ luật Dân sự là: (0,2 : 12) x 20.000.000 đồng x 13 tháng = 4.333.329 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà Dương Sỹ T chịu trách nhiệm trong khoản vay này là: 65.000.000 đồng - 4.333.329 đồng = 60.666.671 đồng (Sáu mươi triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng). Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn nên anh Nguyễn Sỹ T chỉ đóng tiền lãi đối với khoản vay này là 40.000.000 đồng, nên số tiền thực tế Dương Sỹ T thu lợi bất chính là: 40.000.000 đồng - 4.333.329 đồng = 35.666.671 đồng.

Đối với khoản vay 40.000.000 đồng: Từ tháng 3/2023 đến thời điểm Dương Sỹ T thú, anh Nguyễn S T1phải trả lãi cho T là 09 tháng, nếu đóng đủ thì anh T1phải trả cho T: 12.000.000 đồng x 09 tháng = 108.000.000 đồng, tương tứng với mức lãi suất là 30%/tháng (360%/năm), mức lãi suất này cao gấp 18 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch cho vay dân sự. Số tiền lãi mà Dương Sỹ T được phép thu của khoản vay này theo quy định của Bộ luật Dân sự là: (0,2 : 12) x 40.000.000 đồng x 09 tháng = 5.999.994 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà Dương Sỹ T chịu trách nhiệm trong khoản vay này là: 108.000.000 đồng - 5.999.994 đồng = 102.000.006 đồng (Một trăm linh hai triệu, không trăm linh sáu đồng). Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn nên anh Nguyễn Sỹ T chỉ đóng tiền lãi đối với khoản vay này là 52.000.000 đồng, nên số tiền thực tế Dương Sỹ T thu lợi bất chính là: 52.000.000 đồng - 5.999.994 đồng = 46.000.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền thu lợi bất chính của Dương Sỹ T với 02 khoản tiền đã cho anh Nguyễn Sỹ T nói trên là: 60.666.671 đồng + 102.000.006 đồng = 162.666.677 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi bảy đồng). Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn, anh Nguyễn S T1đóng lãi chưa đủ nên Dương Sỹ T thu lợi bất chính được tổng số tiền của cả 02 khoản vay này là: 35.666.671 đồng + 46.000.006 đồng = 81.666.677 đồng (Tám mươi mốt triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi bảy đồng). Ngày 26/12/2023, Dương Sỹ T Công an huyện T và khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội.

* Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu vàng, đã qua sử dụng, số Imei: 355786372786405, bên trong gắn thẻ Sim có số thuê bao 0332.777.775, trên Sim có dãy số: [...]-

4

11464579463 (thu từ bị cáo Dương Sỹ T chứng trên đã được CQCSĐT Công an huyện T chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh quản lý theo quy định.

* Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn S T1yêu cầu bị cáo Dương Sỹ T trả số tiền đã thu lợi bất chính là 81.000.000 đồng (đối với số tiền lẻ 666.677 đồng, anh T1không yêu cầu hoàn trả). Ngày 20/02/2024, Dương Sỹ T hoàn trả đầy đủ số tiền trên cho anh Nguyễn Sỹ T. Đối với số tiền vay gốc 60.000.000 đồng ông T1chưa trả lại cho Dương Sỹ T

Với hành vi trên, tại cáo trạng số 16/CT-VKS - TH, ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Dương Sỹ T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Sỹ T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
  • - Về hình phạt: áp dụng khoản 2 Điều 201 điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điểm g, tiết đầu điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Sỹ T 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024;
  • - Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b, khoản 1, khoản 2, Điều 47 BLHS; điểm a khoản 3, Điều 106 BLTTHS; Nghị Quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 BLHS:
    • + Truy thu từ bị cáo Dương Sỹ T số tiền 10.333.323 đồng là tiền lãi T được phép thu theo quy định của BLDS.
    • + Truy thu từ người liên quan ông Nguyễn S T1số tiền 60.000.000 đồng là công cụ, phương tiện bị cáo T vào việc phạm tội để nộp ngân sách Nhà nước.
    • + Trả lại cho chị Trần Thị L1 P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu vàng, đã qua sử dụng, số Imei: 355786372786405, bên trong gắn thẻ Sim có số thuê bao 0332.777.775, trên Sim có dãy số: [...]-11464579463.
  • - Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Dương Sỹ T nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo cho rằng đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, do thiếu hiểu biết nên bị cáo đã vi phạm pháp luật; hoàn cảnh gia đình của bị cáo có nhiều khó khăn, vợ mới sinh con (sinh đôi), hiện

5

chưa lao động được nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Sỹ T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ tháng 11/2022 đến ngày 26/12/2023, tại thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh Dương Sỹ T đã 02 lần cho anh Nguyễn S T1sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh vay tổng số tiền 60.000.000 đồng, trong đó: lần thứ nhất cho vay 20.000.000 đồng, với mức lãi suất 25%/tháng, tương đương 300%/năm, thu lợi bất chính 60.666.671 đồng; lần thứ hai cho vay 40.000.000 đồng, với mức lãi suất 30%/tháng, tương đương 360%/năm, thu lợi bất chính 102.000.006 đồng. Tổng số tiền Dương Sỹ T lợi bất chính theo thỏa thuận là 162.666.677 đồng. Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn nên anh Nguyễn Sỹ T chỉ đóng tiền lãi đối với cả 02 khoản vay này tổng cộng là 92.000.000 đồng, nên số tiền thực tế Dương Sỹ T thu lợi bất chính là 81.666.677 đồng. Mức lãi suất T cho anh T1vay là vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS. Hành vi của bị cáo Dương Sỹ T đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát huyện T, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Về các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • - Tình tiết tăng nặng: “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm”, theo quy định tại điểm g, tiết đầu điểm h, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
    • - Tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “Người phạm tội đầu thú”, theo quy định tại điểm b, tiết đầu điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
  4. Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến hoạt động tín dụng của Nhà nước, xâm phạm lợi ích của cá nhân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Bản thân bị cáo có

6

nhân thân xấu, đang có một tiền án về tội đánh bạc, chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do đó, cần xử lý nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa phạm tội chung. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần xem xét cho bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tự nguyện trả lại số tiền thu lợi bất chính cho người liên quan, hoàn cảnh gia đình hiện tại cũng gặp nhiều khó khăn, vợ mới sinh con, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, để từ đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, song dù giảm nhẹ đến đâu thì với nhân thân, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thì việc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phải trả lại cho anh Nguyễn Hữu T số tiền thu lợi bất chính lớn, hoàn cảnh hiện tại có nhiều khó khăn nên xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
  • [5] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
    • - Xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu vàng, đã qua sử dụng, số Imei: 355786372786405, bên trong gắn thẻ Sim có số thuê bao 0332.777.775.
    • Về nguồn gốc chiếc điện thoại theo bị cáo trình bày là của vợ là chị Trần Thị Linh P trước khi kết hôn với bị cáo; do điện thoại của bị cáo hỏng nên mượn của vợ sử dụng; quá trình bị cáo tải áp về điện thoại thực hiện hành vi chuyển tiền cho người vay, chị P biết. Quá trình chuẩn bị xét xử, chị L1xuất trình chứng cứ hợp đồng vay tiền mua hàng điện tử trả góp với Công ty T ngày 02/12/2021 và hợp đồng mua hàng (điện thoại) trả góp tại Cửa hàng Táo Store ngày 02/12/2021 (trước khi kết hôn với Dương Sỹ T Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ cho thấy đây là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị L1 P có trước khi kết hôn, việc bị cáo Dương Sỹ T dụng điện thoại vào mục đích phạm tội chị P biết nên cần xem xét trả lại chiếc điện thoại cho chị P phù hợp.
    • - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b, khoản 1, khoản 2, Điều 47 BLHS; điểm a khoản 3, Điều 106 BLTTHS; Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 201 BLHS:
      • + Đối với khoản tiền gốc 60.000.000 đồng mà bị cáo cho anh Nguyễn Hữu T vay, tại phiên tòa hôm nay bị cáo và anh T khẳng định chưa trả lại cho bị cáo. Đây là số tiền sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần truy thu từ anh Nguyễn Hữu T nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.
      • + Đối với khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay cần truy thu từ bị cáo Dương Sỹ T để nộp ngân sách Nhà nước.

7

  • [6] Về án phí: Bị cáo Dương Sỹ T bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • [7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm b, tiết đầu điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, tiết đầu điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của BLHS xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Sỹ T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Sỹ T 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/12/2023, đến ngày 04/01/2024.
  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp khác: Áp dụng điểm b, khoản 1, khoản 2, Điều 47 BLHS; các điểm a khoản 3, Điều 106 BLTTHS; Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 BLHS:
    • - Truy thu từ bị cáo Dương Sỹ T số tiền 10.333.323 đồng(Mười triệu ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm hai ba đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
    • - Truy thu từ anh Nguyễn S T1số tiền 60.000.000 đồng(Sáu mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
    • - Trả lại cho chị Trần Thị L1 P 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu vàng, đã qua sử dụng, số Imei: 355786372786405, bên trong gắn thẻ Sim có số thuê bao 0332.777.775, trên Sim có dãy số: [...]-11464579463.
    • (Tình trạng đặc điểm vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 06/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T thi hành án dân sự huyện T).
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2, Điều 136 BLTTHS; điểm a, khoản 1, Điều 23 và mục 1, phần I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Dương Sỹ T phải nộp 200.000 đồng(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng

8

mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà;
  • - Công an huyện Thạch Hà;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Thạch Hà;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu Hồ sơ; VT

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Nhân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Kiều HươngTrương Văn ThànhNguyễn Thành Nhân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Sỹ Tuấn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger