Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày 23 - 4 - 2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Đàm Thị Tư.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Chung

Bà Nguyễn Thị Hồng Chuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị C - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Mai Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự theo hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu Trung tâm tại phòng xét xử, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, đối với vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng T, sinh ngày 10/01/1968 tại huyện N, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 25/6/2021; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu D (đã chết) và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1946; vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm 1973; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 27 ngày 17/9/1996, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 03 tháng tù về tội “Chứa chấp tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (đã được xóa án tích); Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 08/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang. Có mặt.


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 08/01/2024, tại thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang, Công an xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang phát hiện một người đàn ông mặc áo dài màu dằn zi, tóc bạc, không đội mũ bảo hiểm điều khiển xe máy loại Win, nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 23F1-059.83, có biểu hiện nghi vấn, Công an đã tiến hành kiểm tra trên người đối tượng phát hiện trong túi áo ngực bên trái có 01 hộp “Cao sao vàng” bên trong chứa chất màu đen nghi là thuốc phiện. Quá trình đấu tranh đối tượng khai họ tên là Nguyễn Hồng T, sinh năm 1968, trú tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang và khai nhận chất màu đen trong hộp “Cao sao vàng” là thuốc phiện. Công an xã T, huyện B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các đồ vật có liên quan gồm: 01 hộp cao sao vàng bằng kim loại hình tròn bên trong có chứa chất nhựa màu đen nghi là ma túy (thuốc phiện); Tiền Việt Nam 1.340.000đ (một triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt đằng sau có chữ “Samsung”, màu đen, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô loại Win, nhãn hiệu ESPERO STAR, biển kiểm soát 23F1-059.83, màu sơn đen.

Vào hồi 18 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hồng T tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang. Quá trình khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan. Đồng thời, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B cũng đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Nguyễn Hồng T. Kết luận Nguyễn Hồng T dương tính với chất ma túy Heroin.

Quá trình điều tra Nguyễn Hồng T đã khai nhận: Thi thoảng có sử dụng nhựa thuốc phiện, để tiện sử dụng T cho nhựa thuốc phiện vào trong 01 hộp kim loại nhỏ hình tròn màu đỏ có chữ “Cao sao vàng” và thường xuyên cất giấu trong người. Vào khoảng 16 giờ ngày 08/01/2024, T sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 23F1-059.83 của gia đình đi từ nhà đến chợ xã T, huyện B để mua đồ cho vợ là Nguyễn Thị V, trước khi đi T cầm theo số tiền 1.340.000đ (một triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) do V đưa cho và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại màn hình cảm ứng màu đen. Khi T điều khiển xe mô tô đến khu vực thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang thì bị Công an xã T kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Hồi 22 giờ 50 phút, ngày 08/01/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cân tịnh vật chứng thu giữ của Nguyễn Hồng T khi bắt quả tang, kết quả cân tịnh là 3,782g (ba phẩy bảy trăm tám mươi hai gam), lấy mẫu giám định ký hiệu A.

Ngày 08/01/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 26/QĐ-ĐCSHS-KT-MT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định đối với chất nhựa dẻo màu đen ký hiệu A thu giữ của Nguyễn Hồng T có phải là ma túy không? Nếu có thì là loại ma túy gì? Có khối lượng là bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số 60/KL-KTHS, ngày 13/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma túy, loại nhựa Thuốc phiện, có khối lượng là 3,782g (ba phẩy bảy trăm tám mươi hai gam). Thuốc phiện nằm trong Danh mục I, Mục ID, số thứ tự 3, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất.

Với chứng cứ và hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 23/CT-VKSBQ ngày 21/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hồng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu.

Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Hồng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

* Về điều luật và hình phạt: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ (ngày 08/01/2024). Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng như sau:

  • Đề nghị xử tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước ghi “Mẫu hoàn trả sau giám định, ký hiệu A, vụ Nguyễn Hồng T”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước ghi“Vỏ bao gói sau giám định, vụ Nguyễn Hồng T”, mặt sau có hình dấu tròn đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước ghi “Hộp kim loại hình tròn, dạng hộp Cao Sao V1 và phong bì niêm phong cũ, vụ Nguyễn Hồng T”, mặt sau có 03 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện B và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.

* Về án phí: Đề nghị bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra; giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai và bản tự khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và sơ đồ, bản ảnh nơi xảy ra vụ việc ngày 08/01/2024; Biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu; Biên bản làm việc ngày 08/01/2024 và bản ảnh vật chứng thu giữ của Nguyễn Hồng T; Kết luận giám định số 60/KL-KTHS ngày 13/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H cùng tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 08/01/2024 Nguyễn Hồng T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại nhựa thuốc phiện có khối lượng là 3,782g (ba phẩy bảy trăm tám mươi hai gam), nên bị cáo Nguyễn Hồng T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang đã truy tố.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thuộc tội phạm nghiêm trọng có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Hành vi đó đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước trong việc quản lý và sử dụng chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Chất ma tuý nói chung, nhựa thuốc phiện nói riêng là chất gây nghiện nghiêm trọng, không những huỷ hoại sức khoẻ của người mắc nghiện, hủy hoại đạo đức của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Mặc dù, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng do lối sống coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của người phạm tội thấy rằng: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân không tốt, năm 1996 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 03 tháng tù về tội “Chứa chấp tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhiều năm và đã được xóa án tích, nên coi như chưa bị kết án theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi áp dụng mức hình phạt cũng xem xét để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Hồng T, cơ quan Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt hành chính ngày 28/02/2024, bằng hình thức cảnh cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là có cơ sở.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo đang bị tạm giam: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy, cần tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hồng T để bảo đảm việc thi hành án, thời hạn tạm giam đối với bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

[8] Về xử lý vật chứng: Trên cơ sở vật chứng đã thu giữ trong vụ án, căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử, xác định: 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước ghi “Mẫu hoàn trả sau giám định, ký hiệu A, vụ Nguyễn Hồng T”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước ghi “Vỏ bao gói sau giám định, vụ Nguyễn Hồng T”, mặt sau có hình dấu tròn đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước ghi “Hộp kim loại hình tròn, dạng hộp Cao Sao V1 và phong bì niêm phong cũ, vụ Nguyễn Hồng T”, mặt sau có 03 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện B và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong, là những vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị và không sử dụng được, nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[9] Đối với những vật chứng cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu gồm: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 23F1-059.83; số tiền 1.340.000đ (một triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại màn hình cảm ứng màu đen. Hội đồng xét thấy đây là những tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội, việc trả lại là đúng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Từ những phân tích nêu trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án, đề nghị về tội danh, đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo, đề nghị xử lý vật chứng, án phí là hoàn toàn có cơ sở và đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 3, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ (ngày 08/01/2024).

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hồng T để bảo đảm việc thi hành án, thời hạn tạm giam đối với bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

  1. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước ghi “Mẫu hoàn trả sau giám định, ký hiệu A, vụ Nguyễn Hồng T”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước ghi“Vỏ bao gói sau giám định, vụ Nguyễn Hồng T”, mặt sau có hình dấu tròn đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước ghi “Hộp kim loại hình tròn, dạng hộp Cao Sao V1 và phong bì niêm phong cũ, vụ Nguyễn Hồng T”, mặt sau có 03 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện B và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang).

  2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Công an huyện Bắc Quang (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Quang;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện BQ;
  • - UBND xã Đồng Tâm;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bộ phận THA hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Đàm Thị Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger