Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày 22-4-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tô Thị Thịnh

    Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Quang Định và bà Vũ Thị Xuyến.

  • - Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết Tâm - Kiểm sát viên.

  • - Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:

    + Ông Phạm Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí.

    + Ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự theo hình thức xét xử trực tuyến thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Đào Văn M, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1992 tại huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Nơi thường trú: tổ 2, khu 2, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở khi bị bắt: tổ 45A, khu 12, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn P và bà Vũ Thị A; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: ngày 12/7/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Uông Bí ra Quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng; đến ngày 11/02/2023 chấp hành xong trở về địa phương; bị cáo bị bắt quả tang ngày 19/12/2023, bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023; bị tạm giam từ ngày 28/12/2023 (hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí), có mặt.

- Người làm chứng: Anh Tráng Ngọc H, anh Nguyễn Thế A, bà Phạm Thị L, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Văn M là người thường xuyên sử dụng chất ma túy, để có tiền mua ma túy M nảy sinh ý định mua ma túy (cần sa) để bán, vào ngày 13/12/2023, thông qua mạng xã hội Telegram, M hỏi mua từ một người không quen biết 01 túi ma túy loại cần sa với giá 1.400.000 đồng. Đến ngày 16/12/2023, M nhận được túi ma túy qua người vận chuyển hàng (không quen biết) và trả trực tiếp số tiền 1.400.000 đồng. Sau đó, M chia túi ma túy trên thành 06 túi nilon ma túy nhỏ khác nhau, M đã sử dụng hết 04 túi. Đến khoảng 15 giờ ngày 19/12/2023, anh Tráng Ngọc H gọi điện cho M hỏi mua 200.000 đồng ma túy cần sa, M đồng ý. Theo thỏa thuận, H đến gặp M ở quán nước chè của M tại tổ 12B, khu 4, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây, M đưa cho H 01 túi ma túy cần sa, H đưa cho M 200.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ của M: 01 điện thoại Iphone màu hồng, kèm sim số 0367.214.080, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; thu giữ của H: 01 túi nilon kích thước (5x7,5) cm có chứa thực vật khô, 01 điện thoại Iphone màu đen, kèm sim số 0369.696.913. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí tiến hành khám xét khẩn cấp nơi bán nước của M, thu giữ tại ngăn để đồ của tủ bán hàng 01 túi nilon có chứa thực vật khô.

Tại bản kết luận giám định số 1799 ngày 24/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Thực vật khô (kí hiệu M1) trong 01 túi nilon, kích thước (5x7,5) cm, thu giữ của Tráng Ngọc H là ma túy, loại Cần sa, khối lượng: 0,824 gam (không phẩy tám hai bốn gam); Thực vật khô (kí hiệu M2) trong 01 túi nilon, kích thước (5x7,5) cm, thu giữ khi khám xét của Đào Văn M là ma túy, loại Cần sa, khối lượng: 1,533 gam (một phẩy năm ba ba gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định.

Tại Cáo trạng số 04/CT-VKS-UB ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo Đào Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm: vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự:

  • + Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Văn M từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 19 tháng 12 năm 2023).

  • + Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  • - Về vật chứng: đề nghị áp dụng các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 sim số 0367.214.080 được gắn trong điện thoại Iphone màu hồng thu giữ của bị cáo Đào Văn M.

  • + Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone màu hồng và số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Đào Văn M.

Bị cáo Đào Văn M không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá về tội danh của bị cáo:

Xét thấy: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh lập vào hồi 16 giờ 25 phút ngày 19 tháng 12 năm 2023; phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Kết luận giám định số 1799/KL-KTHS ngày 24/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Thực vật khô (kí hiệu M1) trong 01 túi nilon, kích thước (5x7,5) cm, thu giữ của Tráng Ngọc H là ma túy, loại Cần sa, khối lượng: 0,824g (không phẩy tám hai bốn gam); Thực vật khô (kí hiệu M2) trong 01 túi nilon, kích thước (5x7,5) cm, thu giữ khi khám xét của Đào Văn M là ma túy, loại Cần sa, khối lượng: 1,533g (một phẩy năm ba ba gam).

(Cần sa nằm trong danh mục ID, STT: 1; Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: vào hồi 16 giờ 15 phút ngày 19/12/2023, tại tổ 12B, khu 4, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Đào Văn M có hành vi bán trái phép 0,824g (không phẩy tám hai bốn gam) ma tuý, loại Cần sa, choTráng Ngọc H thì bị phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, M còn tàng trữ 1,533g (một phẩy năm ba ba gam) ma túy, loại Cần sa, mục đích để bán kiếm lời.

Bị cáo Đào Văn M là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng ý thức chấp hành pháp luật kém; bị cáo biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện để nhằm mục đích kiếm lời. Hành vi của bị cáo M là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và các chất gây nghiện, làm mất trật tự, an toàn xã hội. Chất ma tuý gây nguy hại đến sức khoẻ con người, ma túy cũng là mầm mống phát sinh các loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, tạo nên nhiều bức xúc trong quần chúng nhân dân. Trong những năm qua Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị, xã hội đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn đối với các tội phạm về ma tuý; nhiều cuộc vận động, tuyên truyền về tác hại của ma tuý đã được tổ chức; rất nhiều tội phạm về ma tuý đã bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, do vậy cần phải bị xử lý thật nghiêm trước pháp luật. Hành vi của bị cáo Đào Văn M đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 04/CT-VKS-UB ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.

[3] Đánh giá về hình phạt:

[3.1] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Đào Văn M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có 01 tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được sai phạm nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về hình phạt chính: xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý trong giai đoạn hiện nay.

[3.3] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung, tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Đánh giá về vật chứng và xử lý vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 01 điện thoại Iphone màu đen, kèm sim số 0369.696.913 là của bà Phạm Thị L (mẹ đẻ của anh Tráng Ngọc H), bà L không biết việc anh H sử dụng chiếc điện thoại trên vào việc mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí đã trả lại cho bà L. Bà L đã nhận lại tài sản trên, không có yêu cầu hay đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

  • - Đối với 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, xét thấy là vật có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy.

  • - Đối với 01 (một) điện thoại Iphone màu hồng thu giữ của bị cáo Đào Văn M. Xét thấy có liên quan đến hành vi phạm tội và còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

  • - Đối với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Đào Văn M. Xét thấy đây là tài sản do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

  • - Đối với 01 sim số 0367.214.080 được gắn trong điện thoại Iphone màu hồng thu giữ của bị cáo Đào Văn M. Xét thấy có liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

[5] Đánh giá về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

  • - Đối với anh Tráng Ngọc H có hành vi mua trái phép chất ma túy của bị cáo Đào Văn M, mục đích để sử dụng, nhưng khối lượng ma túy chưa đến mức xử lý hình sự nên Công an thành phố Uông Bí đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh H.

  • - Đối với người bán ma túy và người vận chuyển ma túy cho M do không rõ lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

[6] Đánh giá về án phí: bị cáo Đào Văn M là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Đánh giá về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ pháp luật, tội danh và hình phạt:

    • - Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

    • - Tuyên bố: bị cáo Đào Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    • - Xử phạt: bị cáo Đào Văn M 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 19 tháng 12 năm 2023).

  2. Về xử lý vật chứng: căn cứ các điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 sim số 0367.214.080 được gắn trong điện thoại Iphone màu hồng thu giữ của bị cáo Đào Văn M.

    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone màu hồng và số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Đào Văn M.

    (tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí).

    (tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản, Phiếu nhập kho và Biên bản giao nhận tài sản được lập cùng ngày 11/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí và Kho bạc Nhà nước thành phố Uông Bí).

  3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Đào Văn M phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện KSND thành phố Uông Bí;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Uông Bí;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Uông Bí;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Uông Bí;
  • - Chi cục THADS TP. Uông Bí;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tô Thị Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đào Văn Mạnh phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger