Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HSST

Ngày 21 - 06 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Danh

Ông Tạ Dương Thắng

- Thư ký phiên toà: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trang– Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 06 năm 2024 tại Phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST- HS ngày 23/05/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Dương Quốc V, sinh ngày 01/01/1990; nơi sinh: tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Số F, đường N, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Quốc T, sinh năm 1968 (chết) và con bà Trần Kim H, sinh năm 1973; vợ: Trần Thị Hoàng Y; con: có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án: có 03 tiền án chưa được xóa án tích, cụ thể: ngày 16/02/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc trăng, tỉnh Sóc Trăng xử 01 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 16/11/2017; Ngày 12/10/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc trăng, tỉnh Sóc Trăng xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, chấp hành xong ngày 16/01/2020; Ngày 16/11/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc trăng, tỉnh Sóc Trăng xử 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm”; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30/8/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 11/8/2008 (đã được xóa án tích). Ngày 23/01/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
  2. Họ và tên: Trần Vũ L, sinh ngày 01/01/1994; nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1966 và con bà Phan Thị Thu Đ, sinh năm 1974; vợ, con: chưa có; tiền án: có 01 tiền án chưa được xóa án tích, vào ngày 11/8/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 30/11/2022; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 23/01/2024, bi Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Lâm S, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Lư Văn C, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 21/11/2023, Trần Vũ L rủ Dương Quốc V đi tìm tài sản lấy trộm để bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân, thì V đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển kiểm soát 83P2-694.95 chở V ngồi phía sau, xuất phát từ nhà của L ở ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng đi theo đường lộ đal nông thôn về hướng huyện C, tỉnh Sóc Trăng, để tìm kiếm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, thì L và V phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Future, màu nâu đỏ đen, biển kiểm soát 83G1- 034.80 của ông Lâm S, sinh ngày 01/01/1990, nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, đang đậu ở chỗ đất trống gần lộ đal, không có người trông giữ, nên L dừng xe lại, quan sát thấy không ai, L xuống xe đi bộ đến và dùng tay bứt dây nguồn xe mô tô trên, sau đó dẫn xe lên lộ đal và dùng chân đạp khởi động xe, lúc này V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83P2-694.95 chạy phía trước, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83G1- 034.80 chạy theo phía sau đi về hướng Quốc lộ F để đi về Phường E, thành phố S. Khi đi đến đường T, Phường E, thành phố S, thì L kêu V vào quán cà phê ven đường ngồi uống cà phê đợi L, còn L thì điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83G1-034.80 đi đến khu vực chợ M, thuộc Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng để tìm người tiêu thụ. Tại đây, L gặp một người đàn ông tên L1 (không xác định được họ, tên và địa chỉ), sau khi thỏa thuận giá cả thì L đã bán xe mô tô trên cho L1 với số tiền là 3.500.000 đồng. Sau đó, L đi xe ôm quay lại quán cà phê trên đường T gặp V, rồi L và V chia nhau mỗi người số tiền 1.750.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐG ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, thuộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng, kết luận: tại thời điểm ngày 21/11/2023, xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future FI, màu nâu đỏ đen, biển kiểm soát 83G1-034.80. Nguyên giá 36.000.000 đồng, tỷ lệ chất lượng còn lại 70%, giá trị còn lại 25.200.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, hai trăm ngàn đồng).

Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã tạm giữ của bị hại Lâm Song: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005233; tên chủ xe Lâm Song, biển kiểm soát đăng ký 83G1-034.80.

Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị hại Lâm Song: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005233; tên chủ xe Lâm Song, biển kiểm soát đăng ký 83G1-034.80.

Đối với vật chứng là xe mô tô biển kiểm soát 83P2-694.95 mà các bị can Trần Vũ L và Dương Quốc V sử dụng làm phương tiện phạm tội, đã được xử lý trong một vụ án khác, nên không đặt ra để xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lâm Song yêu cầu các bị cáo Dương Quốc V và Trần Vũ L bồi thường thiệt hại số tiền là 25.200.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS-CT ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Dương Quốc V, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Vũ L, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Dương Quốc V và Trần Vũ L phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Quốc V, đề nghị xử phạt bị cáo Dương Quốc V từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Tổng hợp hình phạt 03 năm 09 tháng tù của Bản án số 05/2024/BA-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 03 năm 03 tháng đến 06 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/11/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Vũ L, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Vũ L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù của Bản án số 05/2024/BA-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/11/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền là 25.200.000 đồng cho bị hại Lâm Song.

Về vật chứng của vụ án: Đối với vật chứng là xe mô tô biển kiểm soát 83P2-694.95 mà các bị cáo Trần Vũ L và Dương Quốc V sử dụng làm phương tiện phạm tội, đã được xử lý trong một vụ án khác, nên không đặt ra để xem xét.

Trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị cáo Dương Quốc V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo đồng ý cùng bị cáo L bồi thường cho bị hại số tiền là 25.200.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Vũ L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất với quan điểm luận tội, không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên huyện C trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Quốc V; bị hại ông Lâm S có đơn yêu cầu cầu xét xử vắng mặt; người làm chứng ông Lư Văn C vắng mặt. Những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng bị cáo Dương Quốc V; bị hại ông Lâm S có đơn yêu cầu cầu xét xử vắng mặt; người làm chứng ông Lư Văn C vắng mặt không có lý do, xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử, tại phiên tòa bị cáo L đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu hoãn phiên toà. Căn cứ vào các Điều 290, 292, 293, 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Vũ L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 07 giờ ngày 21/11/2023, bị cáo Trần Vũ L rủ bị cáo Dương Quốc V đi tìm tài sản lấy trộm bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân, thì bị cáo V đồng ý. Sau đó, bị cáo L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển kiểm soát 83P2-694.95 chở bị cáo V ngồi phía sau, xuất phát từ nhà của L ở ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng đi theo đường lộ đal nông thôn về hướng huyện C, tỉnh Sóc Trăng, để tìm kiếm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, đến khu vực thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo L và bị cáo V phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Future, màu nâu đỏ đen, biển kiểm soát 83G1- 034.80 của bị hại Lâm Song, đang đậu ở chỗ đất trống gần lộ đal, không có người trông giữ, nên bị cáo L lén lút chiếm đoạt bán lấy tiền để tiêu xài cá nhân. Tại thời điểm ngày 21/11/2023, xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future FI, màu nâu đỏ đen, biển kiểm soát 83G1-034.80. Nguyên giá 36.000.000 đồng, tỷ lệ chất lượng còn lại 70%, giá trị còn lại 25.200.000 đồng (Hai mươi lăm triệu hai trăm ngàn đồng). Do đó, Cáo trạng số 18/CT-VKS-CT ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Dương Quốc V về “Tội trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Trần Vũ L về “Tội trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản - Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a)...

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

g) Tái phạm nguy hiểm

[4] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo thật nghiêm để các bị cáo có thời gian cải tạo, học tập trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật.

[5] Xét về vai trò của các bị cáo: Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có thống nhất cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nhưng giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, không phân công cụ thể, nên thuộc trường hợp đồng phạm đơn giản, không phạm tội có tổ chức.

Đối với bị cáo Dương Quốc V: Bị cáo Vũ giữ vai trò là người giúp sức tích cực, khi bị cáo L rủ đi tìm xe lấy trộm thì bị cáo đồng ý ngay, bị cáo là người cảnh giới để bị cáo L chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo ngồi trên xe mô tô biển kiểm soát 83P2- 694.95 chờ sẵn nếu bị cáo L bị phát hiện sẽ chở bị cáo L tẩu thoát và được bị cáo L chia số tiền là 1750.000 để tiêu xài cá nhân.

Đối với bị cáo Trần Vũ L: Bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người khởi xướng, rủ rê bị cáo V tìm tài sản của người khác để lấy trộm, bị cáo trực tiếp điều khiển xe mô tô chở bị cáo V đi tìm tài sản để chiếm đoạt, trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 83G1-034.80 của bị hại, đem xe mô tô chiếm đoạt được đi bán và chia tiền cho bị cáo V để tiêu xài cá nhân.

[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; đối với bị cáo L có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo V bị bệnh nặng. Bị cáo V được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo L được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.

[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với chính sách khoan hồng của Nhà nước, tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội.

[8] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Về trách nhiện dân sự: Bị hại Lâm Song yêu cầu các bị cáo Dương Quốc V và Trần Vũ L phải bồi thường cho bị hại số tiền 25.200.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Trần Vũ L đồng ý cùng bị cáo V bồi thường cho bị hại số tiền 25.200.000 đồng, trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt bị cáo V đồng ý cùng bị cáo L bồi thường cho bị hại 25.200.000 đồng, nên cần buộc mỗi bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền là 12.600.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005233; tên chủ xe Lâm Song, biển kiểm soát đăng ký 83G1-034.80, trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp ông Lâm S, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với vật chứng là xe mô tô biển kiểm soát 83P2-694.95 mà các bị cáo Trần Vũ L và Dương Quốc V sử dụng làm phương tiện phạm tội, đã được xử lý trong một vụ án khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Đối với người đàn ông tên L1 ở thành phố S (không xác định họ, tên và địa chỉ) đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future FI, màu nâu đỏ đen, biển kiểm soát 83G1-034.80 với giá 3.500.000 đồng từ bị cáo Trần Vũ L: Trong quá trình điều tra, do chưa xác định được họ, tên và địa chỉ của người này ở đâu, nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, sau này khi nào làm việc được ông L1, nếu có căn cứ sẽ xem xét, xử lý sau.

[9] Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc các bị cáo Dương Quốc V, Trần Vũ L mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng). Buộc bị cáo Dương Quốc V, Trần Vũ L mỗi bị cáo phải nộp án dân sự sơ thẩm là 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng).

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Dương Quốc V, Trần Vũ L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Quốc V. Xử phạt bị cáo Dương Quốc V 03 (ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù tại bản án sơ thẩm số: 05/2024/HS ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/11/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Vũ L. Xử phạt bị cáo Trần Vũ L 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù tại bản án sơ thẩm số: 05/2024/HS ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/11/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc các bị cáo Dương Quốc V, Trần Vũ L bồi thường thiệt hại tài sản đã chiếm đoạt cho bị hại Lâm Song với số tiền 25.200.000 đồng (trong đó, mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại Lâm S số tiền 12.600.000 đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là xe mô tô biển kiểm soát 83P2-694.95 mà các bị cáo Trần Vũ L và Dương Quốc V sử dụng làm phương tiện phạm tội, đã được xử lý trong một vụ án khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc các bị cáo Dương Quốc V, Trần Vũ L mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng). Buộc bị cáo Dương Quốc V, Trần Vũ L mỗi bị cáo phải nộp án dân sự sơ thẩm là 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo Dương Quốc V bị hại Lâm S có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CQĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 26/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo V rủ bị cáo L đi kiếm tài sản để trộm cắp để có tiền tiêu xài cá nhân. Các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô của bị hại mang đi bán có tiền chia nhau tiêu xài hết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger