|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 15-4-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Phú.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Danh Phú và bà Phan Thị Nga.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:
Bà Lại Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/TLST - HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/ 2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Văn C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 12 tháng 7 năm 1979 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Minh C1, sinh năm 1952 và bà Hà Thị C2, sinh năm 1952; vợ, con: Phạm Thị B, sinh năm 1982; con: có 03 con: Lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/01/2021 Công an huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính số tiền: 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong ngày 13/01/2021).
Bị bắt tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến 01/02/2024. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, Có mặt tại phiên tòa.
2. Hoàng Minh H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 4 năm 1976 tại tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T (Đã chết) và bà Bùi Thị N, sinh năm 1928; có vợ: Phạm Thị T1, sinh năm 1975; con: Có 02 con, L nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến 01/02/2024. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, Có mặt tại phiên tòa.
3. Phạm Xuân B1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 4 năm 1969 tại tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm N, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Xuân L1, sinh năm: 1943 (Đã chết) và bà Hoàng Thị L2, sinh năm 1949; có vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969; con: Có 03 con, L nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến 01/02/2024. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25 tháng 01 năm 2024, các đối tượng Hoàng Văn C, Hoàng Minh H và Phạm Xuân B1 rủ nhau đến chòi chăn nuôi vịt của anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1968 ở ngoài đồng thuộc xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An để đánh bạc. Khi đến chòi, 03 người thấy không có ai, cửa chòi khép không khoá nên 03 người mở cửa đi vào. Sau đó, C đi mua bài còn H và B1 đi vào chòi ngồi xuống chiếc chiếu đã trải sẵn ở nền nhà chờ. Sau khi C mua 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ về, ngồi xuống đưa 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ ra để đánh bạc. Các đối tượng C, H và B1 đều thống nhất đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh bài mười (ba cây) thắng thu bằng tiền. Hình thức đánh bạc và cách tính tiền thắng thua như sau: Các đối tượng sử dụng 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ gồm 01 (một) bộ bài tú lơ khơ màu đỏ và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ màu xanh, loại bỏ các quân bài từ quân 10 đến quân K, chỉ sử dụng 36 quân bài từ quân A đến quân 9. Trước mỗi ván bài, mỗi người chơi đặt cược số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), trong đó có 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) tiền gà và 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) tiền chống cửa. Sau khi tất cả người chơi đặt tiền cược, người cầm cái (cầm chương) sẽ chia cho mỗi người 03 (ba) quân bài, người chơi sẽ so sánh phần bài của mình với phần bài của người cầm cái (cầm chương), bài người nào cao hơn sẽ thắng. Nếu người cầm cái (cầm chương) có tổng điểm 03 (ba) quân bài là 10 thì các người đánh phải trả thêm 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng); bộ bài liêng (ba con trùng chất liên tiếp nhau) thì các người đánh phải trả thêm 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) và bộ bài sáp (ba con trùng nhau) thì các người đánh phải trả thêm 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Phần bài của 03 (ba) quân bài có tổng điểm từ cao đến thấp là 9>8>....>2>1, người chơi so bài với người cầm cái (cầm chương), nếu người cầm cái (cầm chương) cao điểm hơn sẽ thắng đúng bằng số tiền đặt cược. Nếu người chơi nào có bài bằng điểm với bài của người cầm cái (cầm chương) sẽ tính theo chất bài cơ > rô > chuồn > bích, trong đó A(át) cơ là cao nhất. Trường hợp bài người chơi cao hơn bài người cầm cái (cầm chương) thì người cầm cái (cầm chương) trả cho người chơi số tiền ngược lại. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng L3, sinh năm 1974, trú tại xóm N, xã P, huyện Y, đi thăm đồng, khi đi ngang qua chòi nuôi vịt anh H1 thấy 03 người đang ngồi đánh bạc nên vào ngồi xem. Đến khoảng 15 giờ 50 phút, anh H1 đi ra chòi nuôi vịt để bắt gà đưa về nhà làm thịt, gặp 03 người đang đánh bạc, anh H1 nói: “Nghỉ đánh bạc đi”, và không cho đánh bạc nữa. 03 người xin đánh thêm hồi nữa nhưng anh H1 không đồng ý. Thấy vậy, 03 người nghỉ đánh bạc và ngồi uống nước. Khi anh H1 bắt gà xong đi vào chòi, 03 người nói cho uống hết ấm nước rồi về, anh H1 nói: “Khi mô về khép cửa chòi lại cái” rồi đi về nhà. Sau khi anh H1 đi về, 03 người tiếp tục rủ nhau đánh bạc.
Các đối tượng trên đánh bạc với nhau đến 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã P phát hiện bắt quả tang.
* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:
- Số tiền thu giữ trên chiếu bạc là: 34.500.000 đồng (Ba tư triệu năm trăm nghìn đồng).
- Số tiền thu giữ trong người các đối tượng gồm: T3 của H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và thu của B1 số tiền 29.250.000 đồng (Hai chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
- Thu giữ 02 bộ bài tú lơ khơ (01 bộ màu xanh, 01 bộ màu đỏ), mỗi bộ C3 quân bài từ quân A(át) đến quân 9 và 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh.
Quá trình xác minh, làm rõ cơ quan điều tra đã chứng minh được trong quá trình đánh bạc các đối tượng đã sử dụng số tiền vào mục đích đánh bạc như sau: Hoàng Văn C sử dụng số tiền: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), Hoàng Minh H sử dụng 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và Phạm Xuân B1 mang sử dụng 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc 34.500.000 đồng (Ba mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng) đang được tạm gửi tại kho bạc Nhà nước huyện Y để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền thu giữ của Hoàng Minh H và Phạm Xuân B1, quá trình điều tra đã chứng minh được sơ tiền này H và Bằng không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số: 47/KL-KTHS(Đ3-TL), ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận số tiền thu giữ của các đối tượng đánh bạc gửi đến giám định là tiền thật.
Đối với chủ chòi chăn nuôi vịt (chủ nhà hoặc người quản lý nhà) là anh Hoàng Văn H1 đã để cho các bị cáo sử dụng chòi chăn nuôi vịt của mình làm nơi đánh bạc. Do anh H1 không biết và khi biết đã yêu cầu và bắt các đối tượng phải nghỉ đánh bạc. Khi có mặt anh H1 các đối tượng đã nghỉ chơi và ngồi uống nước nhưng khi anh H1 ra về thì lại tự ý tiếp tục đánh bạc nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với anh H1 là chủ chòi chăn nuôi vịt theo qui định.
Đối với Hoàng L3,sinh năm 1974, trú tại xóm N, xã P, huyện Y là người ngồi xem các đối tượng thực hiện hành vi đánh bạc nhưng không tham gia đánh bạc, do đó không có căn cứ xử lý Hoàng L3.
Quá trình điều tra và truy tố các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo đều phù hợp với nhau và phù hợp với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và chứng kiến, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 30/CT - VKS-YT ngày 12 tháng 3 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã truy tố các bị cáo: Hoàng Văn C, Hoàng Minh H và Phạm Xuân B1 ra trước Toà án nhân dân huyện Yên Thành để xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i,s khoản 1 điều 51; điều 58; khoản 1,2 điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Hoàng Văn C từ 09 đến 12 tháng tù về tội: “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i,s khoản 1 điều 51; áp dụng thêm khoản 2 điều 51 đối với bị cáo B1; điều 17; điều 58 và điều 35 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Minh H, Phạm Xuân B1 mỗi bị cáo từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước tổng số tiền 34.500.000 đồng là tiền các đối tượng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng của vụ án gồm: 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ (01 bộ màu xanh, 01 bộ màu đỏ), mỗi bộ C3 quân bài từ quân A(át) đến quân 9 và 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh.
Về án phí buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên mà đều xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là khách quan và hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo Hoàng Văn C, Hoàng Minh H và Phạm Xuân B1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định số 47/KL-KTHS(Đ3-TL), ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/01/2024, tại chòi chăn nuôi vịt của anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1968 ở ngoài đồng thuộc xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Các bị cáo Hoàng Văn C, Hoàng Minh H và Phạm Xuân B1 đã có hành vi đánh bạc trái pháp luật theo hình thức đánh bài ba cây, thắng thua bằng tiền với nhau. Khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an xã P, huyện Y phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Tổng số tiền các đối tượng này sử dụng vào việc đánh bạc là 34.500.000 đồng.
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh và những qui tắc do nhà nước qui định. Hành vi đánh bạc của các bị cáo còn là tiền đề gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác làm ảnh hưởng cuộc sống bình yên của nhiều gia đình và ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được Nhà nước nghiêm cấm đánh bạc dưới mọi hình thức và nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó hành vi của các bị cáo Hoàng Văn C, Hoàng Minh H và Phạm Xuân B1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự với mức hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm với các bị cáo bằng một chế tài hình sự tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Các bị cáo phạm tội đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, biết ăn năn hối cải; các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự và đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Phạm Xuân B1 quá trình lao động sản xuất được tặng thưởng Giấy khen vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc phòng quân sự địa phương năm 2016. Ngoài ra bị cáo còn có bố đẻ là ông Phạm Xuân L1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần cho các bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[4] Về vai trò, nhân thân và mức hình phạt đối với các bị cáo:
Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, không có tổ chức cấu kết chặt chẽ của những người cùng thực hiện tội phạm. Các bị cáo rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài ba cây.
Xét thấy các bị cáo phạm tội đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Các bị các đánh bạc là do bột phát, nên cần tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện bản thân. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, hành vi phạm tội bị bắt quả tang, tội phạm ít nghiêm trọng và các bị cáo đều có nơi cư trú, lí lịch rõ ràng, nhân thân cơ bản đều tốt. Vì vậy thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn như hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo C và hình phạt tiền đối với bị cáo H và B1 là phù hợp với tình chất, hành vi của các bị cáo và cũng đủ để cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt.
Đánh giá về vai trò, vị trí và nhân thân của các bị cáo thấy: Bị cáo Hoàng Văn C là người chuẩn bị công cụ đánh bạc, sử dụng số tiền 15.000.000 đồng để tham gia đánh bạc là nhiều nhất nên phải chịu trách nhiệm cao hơn các bị cáo khác, hơn nữa bị cáo có nhân thân chưa tốt là đã bị xử phạt vi phạm hành chính và chấp hành xong ngày 13/01/2021. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt chính là phạt từ nhưng cho hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp. Các bị cáo còn lại có vai trò thấp hơn bị cáo C nên cần áp dụng hình phạt chính bằng phạt tiền là phù hợp: Các bị cáo Hoàng Minh H và Phạm Xuân B1 tham gia đánh bạc và lần lượt sử dụng số tiền là 10.000.000 đồng đối với bị cáo H và 9.500.000 đồng đối với bị cáo B1 để đánh bạc ít hơn bị cáo C nên cần xác định bị cáo H giữ vai trò thứ hai và bị cáo B1 giữ vai trò thứ ba trong vụ án.
Do có cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo Hoàng Minh H và Phạm Xuân B1 như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo để răn đe và phòng ngừa các bị cáo và đảm bảo nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo C là người lao động làm ruộng, trình độ văn hoá thấp có thu nhập không ổn định và các bị cáo khác đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sang đối với các bị cáo.
[6] Về những vấn đề khác:
Đối với chủ chòi chăn nuôi vịt (chủ nhà hoặc người quản lý nhà) là anh Hoàng Văn H1 đã để cho các bị cáo sử dụng chòi chăn nuôi vịt của mình làm nơi đánh bạc. Do anh H1 không biết và khi biết đã yêu cầu và bắt các đối tượng phải nghỉ đánh bạc. Khi có mặt anh H1 các đối tượng đã nghỉ chơi và ngồi uống nước nhưng khi anh H1 ra về thì lại tự ý tiếp tục đánh bạc nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với anh H1 theo qui định.
Đối với Hoàng L3,sinh năm 1974, trú tại xóm N, xã P, huyện Y là người ngồi xem các đối tượng thực hiện hành vi đánh bạc nhưng không tham gia đánh bạc, do đó không có căn cứ xử lý Hoàng L3.
[7.] Vật chứng và xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Xét thấy:
- Đối với 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ (01 bộ màu xanh, 01 bộ màu đỏ), mỗi bộ C3 quân bài từ quân A(át) đến quân 9 và 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh đã qua sử dụng là những vật chứng của vụ án, các bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 34.500.000 đồng (Ba mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền các đối tượng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm:
Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i,s khoản 1 điều 51; điều 17; điều 58 và điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/4/2024).
Giao bị cáo Hoàng Văn C cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i,s khoản 1 điều 51; áp dụng thêm khoản 2 điều 51 đối với bị cáo B1; điều 17; điều 58 và điều 35 của Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân H2 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Xuân B1 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ (01 bộ màu xanh, 01 bộ màu đỏ), mỗi bộ C3 quân bài từ quân A(át) đến quân 9 và 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền: 34.500.000 đồng (Ba mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền các đối tượng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Vật chứng đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành quản lý. Chi tiết vật chứng thi hành án theo biên bản giao nhận vật chứng, phiếu nhập kho đề cùng ngày 15/3/2024 giữa cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Y và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành và Giấy nộp tiền vào tài khoản 39490104774600000 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành tại (Kho bạc Nhà nước Y) đề ngày 14/3/2024.
- Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, buộc các bị cáo Hoàng Văn C, Hoàng Xuân H2 và Phạm Xuân B1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Phú |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
