Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH GIANG

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày: 10/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Yến Linh
Ông Vũ Hồ Phương

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 10/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 06 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS, ngày 27/6/2024, đối với:

Bị cáo: Trần Huy B (Tên gọi khác: Trần Văn M), sinh năm 1989 tại Hải Dương - Địa chỉ cư trú: thôn Đươi, xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (Không xác định) và bà Trần Thị B; vợ Nguyễn Thị N (Đã ly hôn) và 01 con; Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 20 ngày 28/5/2009 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, xử phạt 07 năm 06 tháng về tội Cướp tài sản, ra trại ngày 25/6/2015; Bản án hình sự sơ thẩm số 30 ngày 23/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, xử phạt 09 tháng về tội Trộm cắp tài sản (Xác định tái phạm); Bản án hình sự sơ thẩm số 28 ngày 24/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, xử phạt 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản (Xác định tái phạm), ra trại ngày 24/01/2019. Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2005 chủ tịch UBND huyện Gia Lộc ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng; Bản án hình sự sơ thẩm số 71 ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc - tỉnh Hải Dương, xử phạt 07 năm 03 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma túy - Bị cáo là phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam số 05, Bộ công an - Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Bùi Văn Th - sinh năm 1967- Địa chỉ: thôn Hào Khê, xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).

Người có quyền lợi liên quan: Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm 1957, Địa chỉ: Thôn Đồng Bằng, xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái B (Vắng mặt).

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 08/5/2019 Trần Huy B đi xe mô tô nhãn hiệu Novo không có biển số gặp Hoàng Văn Minh - sinh năm 1990 ở cùng thôn, B rủ Minh sang chợ Quỳnh Côi - tỉnh Thái B để mua đồ sinh hoạt cá nhân, Minh nhất trí. B chở Minh đi trên đường tỉnh lộ 396B đến ngã tư thuộc xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, Minh nhìn sang trái cách đó khoảng 50 m thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Drin, biển số 34F6 - 0073 của ông Bùi Văn Th, dựng ở lề đường phải liên xã Hưng Long đi xã Hồng Phúc chìa khóa cắm ở ổ khóa điện, không có ai trong coi. Thấy vậy, Minh liền bảo B dừng xe mô tô để xuống trộm cắp chiếc xe mô tô đó. B đồng ý dừng xe mô tô tại ngã tư Hưng Long để cảnh giới còn Minh xuống xe đi bộ để lấy xe mô tô, Minh ngồi lên xe mô tô nổ máy rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng cầu Hiệp sang thị trấn Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái B để bán xe mô tô. Tại đây, B đã gọi điện thoại cho người tên là Huy không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể để nhờ Huy bán hộ chiếc xe mô tô biển số 34F6 - 0073, Huy đồng ý đi bộ một mình đến rồi điều khiển xe mô tô do B và Minh trộm cắp được mang đi bán. Còn Minh và B vào nhà nghỉ (Không rõ tên, địa chỉ) để chờ Huy, khoảng 01 tiếng đồng hồ thì Huy đến nhà nghỉ đưa tiền bán xe mô tô 1.200.000 đồng cho B và Minh, số tiền 1.200.000 đồng Minh đã trả tiền nhà nghỉ 200.000 đồng, chia cho B 500.000 đồng, còn 500.000 đồng Minh giữ lại. Sau khi phát hiện bị mất chiếc xe mô tô biển số 34F6 - 0073 cùng ngày ông Bùi Văn Th đã trình báo Cơ quan CSĐT Công an huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Ngày 21/5/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện Gia Lộc - tỉnh Hải Dương có Công văn trao đổi thông tin tội phạm Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 08/5/2019 tại thôn Hào Khê, xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Quá trình điều tra đã phát hiện chiếc xe mô tô biển số 34F6 - 0073 tại nhà ông Nguyễn Khắc T, ông T không biết chiếc xe mô tô do trộm cắp mà có nên đã mua của người không biết tên tuổi, địa chỉ với giá 1.200.000 đồng, ông T đã giao nộp xe mô tô biển số 34F6 - 0073 cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương để trả lại bị hại.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14 ngày 14/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ninh Giang, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Drin, biển số 34F6 - 0073 tại thời điểm ngày 08/5/2019 là 3.000.000 đồng

Cáo trạng số 27/CT-VKS-NG ngày 25/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận Cáo trạng truy tố là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương trình bày quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 điều 51, Điều 38; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Trần Huy B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Trần Huy B từ từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2021/HS-ST, ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Buộc Trần Huy B phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 năm tù đến 09 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2021. Về vật chứng: Truy thu của bị cáo số tiền bán xe NoVo 800.000 đồng, tiền bị cáo được chia do bán xe trộm cắp mà có là 500.000 đồng. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Giang, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Bị hại và người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, HĐXX xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên toà và quá trình điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/5/2019 tại đường liên xã Hưng Long đi xã Hồng Phúc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở của ông Bùi Văn Th, ở thôn Hào Khê, xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, Trần Huy B và Hoàng Văn Minh đã lén lút chiếm đoạt của ông Th 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Drin, biển số 34F6 - 0073 rồi bán cho ông Nguyễn Khắc T với giá 1.200.000 đồng. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt tại thời điểm ngày 08/5/2019 là 3.000.000 đồng.

[4] Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do bị cáo đã tái phạm nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, do đó VKSND huyện Ninh Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần phải xem xét trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra.

[6] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân thân xấu, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản bị cáo chiếm đoạt quy định tại khoản 1 Điều 173 nhưng do tái phạm nguy hiểm nên bị truy tố, xét xử tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự nên được coi là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. HĐXX áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Về việc quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang chấp hành án phạt tù, không có thu nhập, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Drin, biển số 34F6 - 0073 cùng giấy tờ xe, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Đối với số tiền 1.200.000 đồng ông Nguyễn Khắc T mua xe mô tô nhãn hiệu Drin, biển số 03F6 - 0073, ông T không không yêu cầu bị cáo phải bồi thường - HĐXX không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Novo không rõ biển Biển kiểm soát bị cáo khai đã bán được 800.000 đồng, xét thấy đây là phương tiện đi lại của bị cáo nên HĐXX không tịch thu; đối với điện thoại của Trần Huy B, Hoàng Văn Minh Cơ quan CSĐT không thu giữ được nên không có căn cứ xử lý; đối với số tiền bán xe trộm cắp mà có là 1.200.000 đồng, bị cáo tự nguyện nộp lại, HĐXX tịch thu để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[11] Bị cáo khai cùng thực hiện tội phạm với người tên là Hoàng Văn Minh, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không biết Minh hiện nay đang ở đâu, đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; đối với người tên là Huy không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể; đối với ông Nguyễn Khắc T là người mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Drin, biển số 03F6 - 0073 nhưng không biết tài sản do trộm cắp mà có - HĐXX không xem xét xử lý.

[12] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 điều 51, Điều 38; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về tội danh: Tuyên bố Trần Huy B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

3. Về hình phạt: Xử phạt Trần Huy B 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù. Tổng hợp hình phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/6/2021, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2021/HS-ST, ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Buộc Trần Huy B phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 năm 09 tháng (Chín năm chín tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2021.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Truy thu của bị cáo Trần Huy B số tiền 1.200.000 (Một triệu hai trăm ngàn đồng)

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những nội dung có liên quan trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi liên quan;
  • - VKSND huyện Ninh Giang;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Công an huyện Ninh Giang;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Ninh Giang;
  • - CQ THAHS Công an huyện Ninh Giang;
  • - Trại giam số 05, cục C10 - Bộ công an;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm xe
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger