|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
|
|
Bản án số: 26/2024/HS-ST
Ngày: 09-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toan và ông Phạm Văn Ký
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Việt Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/2024/TB-HĐXX ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C - Sinh ngày 07 tháng 4 năm 1982; nơi sinh: huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm C Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và con bà Nguyễn Thị M; bị cáo có vợ là La Thị S và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/10/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh N theo Quyết định tạm giam số 16/2024/HSST-QĐTG ngày 03/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
Bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1973; địa chỉ: xóm C Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L: Bà Ninh Thị T1, sinh năm 1976; địa chỉ: xóm C Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Ninh Thị T1, sinh năm 1976; địa chỉ: xóm C Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- + Chị Nguyễn Thị Khánh L1, sinh năm 2003; địa chỉ: xóm C Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- + Chị La Thị S, sinh năm 1982; địa chỉ: xóm C Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- - Ông Nguyễn Văn T (có mặt);
- - Ông Nguyễn Văn L2 (có mặt);
- - Ông Nguyễn Văn T2 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình Nguyễn Văn C và gia đình ông Nguyễn Văn L có mối quan hệ anh em, họ hàng với nhau. Năm 2015, ông L mua lại thửa đất của ông Nguyễn Văn T3 là ông nội của C, tuy nhiên sau khi mua bán đất Cao không đồng ý nên hai gia đình nảy sinh mâu thuẫn. Khoảng 21 giờ ngày 10/9/2023, Nguyễn Văn C đi chơi về, khi đi qua đầu ngõ vào nhà ông L thấy bóng điện ở đường T, Đ, xã K, trước ngõ nhà ông L sáng yếu nên Cao nhặt gạch đá ở ven đường, đi đến vị trí cột điện vừa chửi vừa ném vào bóng điện làm các viên gạch đá có viên trúng vào bóng điện có viên rơi xuống ao nhà ông L. Lúc này, chị Nguyễn Thị Khánh L1 (là con gái ông L) đang ở trên tầng hai nhà ông L nghe thấy tiếng chửi bới, đi ra ban công thì nhìn thấy Cao ném bóng điện làm gạch đá rơi xuống ao nhà mình liền chạy từ trong nhà ra gặp C, L1 nói “Sao mày ném gạch đá xuống ao nhà tao”, Cao chửi lại L1 “Mẹ tao đánh mày luôn” rồi hai người lao vào nhau, vật lộn trên đường bê tông. Trong lúc vật lộn, C bị đập đầu gối xuống đường gây nên 02 vết xây xước da đầu gối trái kích thước (5,5x2,5)cm và (5x1)cm; 01 vết xây xước da đầu gối phải kích thước (5x5)cm, còn L1 bị đập đầu xuống đường bê tông gây nên 01 vết sưng nề chảy máu tại đỉnh đầu kích thước (2x3)cm và bị C dùng tay đấm 02 phát vào vùng mặt gây nên 01 vết rách da, chảy máu tại niêm mạc môi trên kích thước (01x1,5)cm. Khi cả hai đang vật lộn, bà Ninh Thị T1 (là mẹ của L1) đi thăm người ốm về nhìn thấy, bà T1 hò “Thằng kia sao mày đánh con tao” thì C không đánh L1 nữa mà quay lại chửi “Mẹ mày tao cho mày chết” rồi dùng tay trái túm cổ áo, tay phải đấm vào vùng mặt của bà T1 gây nên 01 vết sưng nề tại vị trí sống mũi giữa hai đầu lông mày có kích thước (2,5x3)cm, dùng chân phải đạp vùng bụng của bà T1 làm bà T1 ngã xuống đường. Sau đó, Cao chạy về phía ngôi nhà của C đang xây, vào trong phòng ngủ của ngôi nhà cũ giáp cổng, lấy ở đầu giường 01 con dao kim loại dài 47cm, phần thân dao bằng kim loại dài 34cm, loại dao một lưỡi, đầu dao nhọn, bản dao phần rộng nhất 6cm, chuôi dao bằng gỗ hình trụ hai đầu bọc kim loại, chạy lại vị trí đường bê tông đầu ngõ vào nhà ông L, C cầm dao chửi “Mẹ mày kêu người ra đây”. Lúc này, bà T1 đã được L1 đỡ dậy, nhìn thấy C đang đi ra tay phải cầm dao thì hò “L1 ơi, nó có dao đấy, chạy đi”. Bà T1 và L1 bỏ chạy về hướng nhà ông L, bà T1 vừa chạy vừa hò “Ố làng nước ơi nó đánh tôi”, C cầm dao lùa theo bà T1, khi khoảng cách còn khoảng 01m thì C dùng tay phải cầm dao vung về phía trước theo phương từ phải sang trái vào phần sau đầu bà T1 gây nên 01 vết rách da, chảy máu kích thước 02cm. Bà T1 tiếp tục bỏ chạy hướng vào trong sân thêm khoảng 4-5m, đến gần cổng thì vấp ngã. Trước đó, ông L đang ở trong nhà nghe thấy tiếng bà T1 hò kêu cứu thì ra sân lấy 01 đoạn gậy tre màu vàng, có hai đầu tù, chiều dài là 1,70m, đường kính 04 cm chạy từ trong sân ra thì thấy C đang đuổi theo bà T1, còn bà T1 ngã nằm trên đường giáp cổng. Thấy vậy, ông L chạy đến
gần, đứng đối diện với C, dùng hai tay vụt gậy về phía Cao nhưng không trúng. Cao quay người bỏ chạy thì ông L đuổi theo C, bà T1 và L1 chạy theo ông L. Khi chạy ra đến đường trục xóm C, Đ cách lối vào nhà ông L khoảng 04m, Cao ngoái lại thấy ông L đang đuổi theo, chạy thêm 2 - 3m thì Cao chạy chậm lại, khi khoảng cách giữa hai người khoảng 01m, Cao xoay người sang bên trái, tay phải cầm dao, mũi dao hướng ra ngoài, lưỡi dao hướng xuống dưới chém 01 phát từ trên xuống dưới về phía ông L, trúng vào vùng đầu bên trái trượt xuống vai trái của ông L gây nên các vết thương thái dương trán trái kích thước khoảng (10x02)cm, bờ mép sắc gọn; đụng dập, xuất huyết nhu mô não thùy trán trái; tụ máu dưới màng cứng bán cầu đại não trái; xuất huyết dưới nhện, bóng khí sọ não; vỡ xương trán đỉnh trái; vết thương lóc da nông vai trái kích thước khoảng (4x1)cm. Bị Cao chém, ông L dùng tay trái ôm vùng đầu vừa bị chém, tay phải cầm gậy tre chạy theo Cao được khoảng 02m thì vô ý làm rơi gậy khiến Cao vấp ngã cày vùng mặt xuống đường, trượt người trên đường bê tông khoảng 1m gây nên 01 vết sưng nề ở gò má bên trái kích thước (9x5)cm; 01 vết xây xước da kích thước (5x1,5)cm ở cạnh đuôi mắt trái; môi trên bị sưng nề xây xước da kích thước (2,5x1)cm; mẻ răng số 2 ở hàm trên bên phải (chiếc răng cạnh răng cửa hàm trên bên phải). Lúc này bà T1 chạy lại dùng đầu gối chân phải đè lên phần bờ vai và cổ bên phải của C, hò “L1 ơi, đè lên chốc người nó để mẹ lấy dao”, L1 nghe thấy vậy đè lên phần vai trái của C. Khi bà T1 giằng dao thì C vẫn cầm dao ở tay phải, vùng vẫy, sợ Cao vùng dậy tiếp tục chém mọi người nên khi Cao ngửa mặt lên thì L1 dùng tay đấm liên tiếp 03 phát vào mặt làm Cao bị thương, gãy xương cánh mũi trái; 01 vết bầm tím kích thước (2x1)cm ở đầu mắt trái. Đồng thời lúc này, bà T1 nhìn thấy ông L đứng cách vị trí C nằm khoảng 0,5m, chảy nhiều máu nên hò “Ố thôi, thằng này, mày chém chồng tao chảy máu ướt hết lưng rồi, mày có bỏ dao ra không” thì C mới bỏ dao ra. Ông L được đưa đi sơ cứu tại Trạm y tế xã K, sau đó, cả ông L và C được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N. Nguyễn Văn C điều trị từ ngày 10/9/2023 đến ngày 18/9/2023 thì ra viện, còn ông Nguyễn Văn L điều trị từ ngày 10/9/2023 đến ngày 27/9/2023 thì ra viện. Sau đó, ông Liên tiếp t điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N từ ngày 28/11/2023 đến ngày 19/12/2023 và từ ngày 04/02/2024 đến ngày 06/02/2024.
Tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y đã thu giữ và niêm phong 01 con dao kim loại dài 47cm, phần thân dao bằng kim loại dài 34cm, loại dao một lưỡi, đầu dao nhọn, bản dao phần rộng nhất 6 cm, chuôi dao bằng gỗ hình trụ hai đầu bọc kim loại; 01 đoạn gậy tre màu vàng, có hai đầu tù, chiều dài là 1,70m, có đường kính 4cm; 01 vỏ nhựa bảo vệ bóng điện màu trắng, hình trụ tròn, đường kính 07cm, cao 05cm.
Ngày 05/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Y ra Quyết định số 93/QĐ-ĐTHS gửi Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh N, trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành các thương tích của Nguyễn Văn L do bị đánh, bị thương vào ngày 10/9/2023. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 150/KLTTCT-TTPY ngày 13/10/2023 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh N kết luận giám định pháp y thương tích đối với Nguyễn Văn L: “Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần
trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L sinh năm 1973 tại thời điểm giám định là 62% (Sáu mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích. Tổn thương do vật sắc trực tiếp gây nên”.
Ngày 28/11/2023, ông Nguyễn Văn L tiếp tục điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N để phẫu thuật tạo hình hộp sọ bằng titan đến ngày 19/12/2023 thì ra viện. Ngày 18/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Y ra Quyết định số 40/QĐ-ĐTHS gửi Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh N, trưng cầu giám định bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn L. Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 011/KLTTCT-TTPY ngày 25/01/2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh N đối với Nguyễn Văn L: “Kết luận giám định ngày 06/10/2023: 62% (Sáu mươi hai phần trăm). Kết luận giám định bổ sung: 02% (Hai phần trăm). Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L sinh năm 1973 tại thời điểm giám định bổ sung là 63% (Sáu mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích sẹo vết mổ. Tổn thương do vật sắc trực tiếp gây nên”.
Đối với Nguyễn Văn C, ngày 11/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Y ra Quyết định số 94/QĐ-ĐTHS gửi Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh N, trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành các thương tích của Nguyễn Văn C do bị đánh, bị thương vào ngày 10/9/2023. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 156/KLTTCT-TTPY ngày 20/10/2023 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh N kết luận giám định pháp y thương tích đối với Nguyễn Văn C: “Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn C sinh năm 1982 tại thời điểm giám định là 12% (Mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích. Tổn thương do vật tầy trực tiếp gây nên”.
Đối với thương tích của bà Ninh Thị T1 và chị Nguyễn Thị Khánh L1, ngày 15/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra các Quyết định số 115/QĐ-ĐTHS và 116/QĐ-ĐTHS gửi Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh N, trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành các thương tích nhưng bà T1 và chị L1 có đơn từ chối trưng cầu giám định.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 30 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo là ngày 19/10/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 357, Điều 468, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 586, khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân sự:
- Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Khánh L1: bị cáo Nguyễn Văn C chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn L tổng cộng là 237.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Khánh L1 phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho bị cáo Nguyễn Văn C tổng cộng là 23.000.000 đồng. Sau khi đối trừ nghĩa vụ, bị cáo Nguyễn Văn C còn phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn L số tiền là 214.000.000 đồng, trong đó bị cáo đã trực tiếp bồi thường 114.000.000 đồng và số tiền 70.000.000 đồng mà chị La Thị S đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô ngày 28/5/2024. Bị cáo chịu trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho ông L số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo còn phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gậy tre màu vàng; 01 vỏ nhựa bảo vệ bóng điện màu trắng; 01 con dao kim loại.
- - Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; các điều 143, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 7 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt. Bị cáo đã ủy quyền cho chị S thực hiện việc bồi thường thiệt hại cho ông L nên nhất trí với biên bản thỏa thuận ngày 30/7/2024 giữa chị La Thị S và bà Ninh Thị T1. Ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Khánh L1 phải bồi thường cho bị cáo thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền là 23.000.000 đồng, bao gồm: chi phí khám bệnh, chữa bệnh là 694.000 đồng; chi phí thuê phương tiện đi lại là 300.000 đồng; chi phí bồi dưỡng sức khỏe là 1.200.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất của bị cáo là 4.600.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc 2.206.000 đồng; tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là 14.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn L tổng số tiền là 237.000.000 đồng và đồng ý đối trừ vào số tiền mà ông L và chị L1 phải bồi thường cho bị cáo, đối trừ vào số tiền 114.000.000 đồng mà gia đình bị cáo đã bồi thường cho ông L, đối trừ vào số tiền 70.000.000 đồng mà chị S đã nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô ngày 28/5/2024. Sau khi đối trừ các khoản bị cáo còn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn L số tiền 30.000.000 đồng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Văn L và người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L trình bày: ngày 10/9/2023 khi thấy C cầm dao lùa theo bà T1 và chị L1, ông L có cầm gậy tre lùa theo C để ngăn chặn việc C đánh bà T1 và chị L1. Trong quá trình ông L lùa theo C thì đã bị C dùng dao chém vào đầu và vai gây nên các vết thương ở thái dương trái và vai trái làm tổn hại 63% sức khỏe. Sau khi bị Cao chém, ông L vô ý làm rơi gậy tre khiến Cao vấp phải và ngã xuống đường. Ông L phải đi bệnh viện điều trị 3 đợt, đợt 1 từ ngày 10/9/2023 đến ngày 27/9/2023, đợt 2 từ ngày 28/11/2023 đến ngày 19/12/2023, đợt 3 từ ngày 04/02/2024 đến ngày 06/02/2024. Về phần trách nhiệm dân sự, ông L nhất trí với biên bản thỏa thuận ngày 30/7/2024 giữa chị La Thị S và bà Ninh Thị T1, bị cáo phải bồi thường cho ông thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với tổng số tiền là 237.000.000 đồng, bao gồm: chi phí khám bệnh, chữa bệnh là 71.050.000 đồng; chi phí thuê phương tiện đi lại là 1.050.000 đồng; chi phí bồi dưỡng sức khỏe là 6.720.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất của ông L là 57.500.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc là 11.760.000 đồng; tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là 88.920.000 đồng. Ông L, chị L1 có trách nhiệm cùng liên đới bồi thường thiệt hại cho bị cáo do sức khỏe bị cáo bị xâm phạm với số tiền là 23.000.000 đồng. Ông L đề nghị Tòa án đối trừ số tiền ông và chị L1 có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị cáo vào số tiền bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho ông. Sau khi đối trừ thì bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông số tiền là 214.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường cho ông L 114.000.000 đồng nên bị cáo tiếp tục phải bồi thường cho ông số tiền còn lại là 100.000.000 đồng. Số tiền này sẽ được trừ vào số tiền 70.000.000 đồng chị S đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho ông L số tiền 30.000.000 đồng. Sự việc xảy ra giữa hai bên là không mong muốn, bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại nên ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Ninh Thị T1 trình bày: Bà là người trực tiếp chăm sóc ông L trong khoảng thời gian ông L phải điều trị tại bệnh viện. Bà đã thay mặt ông L thỏa thuận với chị S về phần bồi thường thiệt hại ngày 30/7/2024 nên cũng đồng ý với đề nghị của ông L. Đối với thương tích do bị cáo gây ra cho bà, bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Khánh L1 trình bày: Khoảng 21 giờ ngày 10/9/2023, chị thấy C cầm gạch, đá ném vào bóng điện trước ngõ vào nhà chị làm gạch, đá rơi xuống ao nhà chị nên chị và Cao có xảy ra xô xát với nhau làm Cao bị xây xước da ở hai đầu gối. Sau khi C bị ngã xuống vườn ngô, chị L1 đã đè lên người Cao đấm vào mũi Cao làm Cao bị gãy xương mũi. Chị L1 xác định chị trực tiếp gây tổn thương cơ thể cho C với tỷ lệ 10%. Chị đồng ý đối trừ số tiền chị phải bồi thường cho C vào số tiền C phải bồi thường cho ông L. Chị nhất trí với thỏa thuận của bà T1 về phần trách nhiệm dân sự ngày 30/7/2024. Đối với thương tích do bị cáo gây ra cho chị, chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị La Thị S trình bày: chị là người trực tiếp chăm sóc cho bị cáo trong thời gian bị cáo điều trị tại bệnh viện. Chị cũng được bị cáo ủy quyền bồi thường thiệt hại cho ông L, chị đã bồi thường cho ông L số tiền 114.000.000 đồng, chị đã nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô số tiền 70.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Chị S đồng ý sử dụng số tiền này để tiếp tục bồi thường thiệt hại cho ông L.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn T là người làm chứng trình bày: ông là bố đẻ của bị cáo Nguyễn Văn C, khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/9/2023, ông là người đưa Cao đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N để cấp cứu khi thấy mặt Cao chảy nhiều máu. Sự việc xảy ra giữa C và gia đình ông L, ông không được chứng kiến.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn L2 là người làm chứng trình bày: ông là anh trai của ông Nguyễn Văn L. Tối ngày 10/9/2024, ông là người trực tiếp đưa ông L đi cấp cứu và ông thấy ông L có vết thương ở thái dương trái và vai trái chảy nhiều máu.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn T2 là người làm chứng trình bày: ông là xóm trưởng xóm C Đ, được giao quản lý các bóng điện thắp sáng của xóm. Đối với việc C làm vỡ nắp nhựa bảo vệ bóng điện, ông không yêu cầu C phải bồi thường. Bố của ông L là em trai ông nội C. Khoảng năm 2015, ông nội C có bán đất cho ông L và ông L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định. Do không đồng ý nên C thường xuyên đến nhà ông L gây sự, có lần chính quyền địa phương phải đến can thiệp.
Bị cáo, đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng tỏ ra rất ân hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo, tu dưỡng rèn luyện bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, Kết luận giám định pháp y cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Do có mâu thuẫn giữa hai gia đình với nhau từ trước, nên khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/9/2023, tại đường trục thuộc xóm C, Đ, xã K, huyện Y, Nguyễn Văn
C đã dùng 01 con dao kim loại là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho ông Nguyễn Văn L, làm ông L bị tổn hại 63% sức khỏe.
Tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người, một khách thể quan trọng của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc xâm phạm đến sức khỏe của người khác là hành vi bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý dùng con dao là hung khí nguy hiểm chém ông Nguyễn Văn L khiến ông L bị thương, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông L là 63%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đối với bị cáo theo bản Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn C không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây thương tích, bị cáo đã tự nguyện bồi thường phần lớn thiệt hại cho ông Nguyễn Văn L; bị cáo có bố đẻ là thương binh, được tặng thưởng Huy chương Chiến sỹ vẻ vang, ông ngoại của bị cáo được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn C có nhân thân tốt.
[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ việc mua bán đất giữa ông nội bị cáo và ông L không liên quan đến bị cáo nhưng bị cáo đã không biết kiềm chế bản thân, đã dùng hung khí nguy hiểm xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của ông L nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời
sống xã hội trong một thời hạn nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã thực sự ăn năn hối cải, đã tích cực bồi thường thiệt hại, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để áp dụng cho bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
[5] Trong vụ án này, ông Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị Khánh L1 có hành vi gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh làm Nguyễn Văn C bị tổn thương 12% sức khỏe, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông L và chị L1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tại biên bản thỏa thuận ngày 30/7/2024, chị La Thị S là đại diện cho bị cáo và bà Ninh Thị T1 là đại diện cho ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Khánh L1 đã thống nhất được với nhau về việc bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa, bị cáo, bà T1, chị S, chị L1 vẫn giữ nguyên sự thỏa thuận ngày 30/7/2024. Xét thấy sự thỏa thuận của các bên là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo, ông L, chị L1 như sau: Bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường cho ông L thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền là 237.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Khánh L1 chịu trách nhiệm bồi thường cho bị cáo thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền là 23.000.000 đồng. Ông L, bị cáo, chị L1 đã thống nhất đối trừ nghĩa vụ cho nhau, sau khi đối trừ bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường cho ông L số tiền là 214.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường cho ông L tổng cộng là 114.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 100.000.000 đồng được trừ vào số tiền 70.000.000 đồng mà chị La Thị S đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô theo biên lai số 0002214 ngày 28/5/2024. Bị cáo còn phải bồi thường cho ông L số tiền là 30.000.000 đồng là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân sự. Bị cáo còn phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
[7] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Đối với 01 gậy tre màu vàng; 01 vỏ nhựa bảo vệ bóng điện; 01 con dao kim loại là công cụ phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[8] Bị cáo bị kết án, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 7 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các bên thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa nên bị cáo chỉ phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 357, Điều 468, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 7 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo là ngày 19/10/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Khánh L1:
Bị cáo Nguyễn Văn C chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Nguyễn Văn L tổng cộng là 237.000.000 đồng (hai trăm ba mươi bảy triệu đồng); ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Khánh L1 phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị cáo Nguyễn Văn C tổng cộng là 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng). Sau khi đối trừ nghĩa vụ, bị cáo Nguyễn Văn C còn phải bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn L số tiền là 214.000.000 đồng (hai trăm mười bốn triệu đồng), bị cáo đã bồi thường 114.000.000 đồng (một trăm mười bốn triệu đồng). Số tiền phải bồi thường còn lại là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), được trừ vào số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) mà chị La Thị S đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô theo biên lai số 0002214 ngày 28/5/2024, bị cáo còn phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn L số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gậy tre màu vàng, 01 vỏ nhựa bảo vệ bóng điện màu trắng, 01 con dao kim loại.
Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mô ngày 31/5/2024.
5. Về án phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Đã ký) Phạm Thị Thu Minh |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C phạm tội "Cố ý gây thương tích"
