Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ MỸ

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:26/2024/HS-ST

Ngày 06-6-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoà;
  2. Ông Lê Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Tiến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 979/2024/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn L, sinh ngày 06 tháng 01 năm 1991, tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị C; vợ: Diệp Hải P, con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

  2. Về nhân thân:

    Ngày 08/5/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Kon Plông xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Đã chấp hành xong bản án vào ngày 25/7/2014.

    Ngày 29/10/2007, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi Trộm cắp tài sản, thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong vào ngày 30/10/2009.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/10/2023 đến ngày 14/3/2024 thì huỷ bỏ biện pháp tạm giam, hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên Toà.

  3. Trân Văn L2, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1999, tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Đ và bà Đinh Thị L3; vợ: Nguyễn Hiền H, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

  4. Nhân thân:

    Ngày 23/02/2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định vào ngày 07/3/2022.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/10/2023 đến ngày 14/3/2024 thì huỷ bỏ biện pháp tạm giam, hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại Toà.

  5. Nguyễn Văn V, sinh ngày 08 tháng 7 năm 1992, tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị C; vợ: Trần Thị Diễm M, con: có 02 đứa, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

  6. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/10/2023 đến ngày 14/3/2024 thì huỷ bỏ biện pháp tạm giam, hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại Toà.

  7. Nguyễn Văn T, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1996, tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

  8. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên Toà.

  9. Trần Ngọc D, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1998, tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị L4; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

  10. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại Toà.

  11. Nguyễn Thành D1, sinh ngày 20 tháng 4 năm 2005, tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T2 (Chết) và bà Bùi Thị M1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

  12. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại Toà.

  13. Nguyễn Văn L, sinh ngày 24 tháng 03 năm 1998, tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L5 và bà Lê Thị Lệ H1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

  14. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại Toà.

Người bị hại:

Phạm Đình V1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngô Thị L6, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

  2. Lê Văn T3, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).

  3. Nguyễn Thị Á, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Người làm chứng:

  1. Tạ Thị Minh L7, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).

  2. Trần Thị N, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).

  3. Thái Văn T4, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).

  4. Trần Hưng Đ1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).

  5. Trần Quốc T5, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 24/8/2023, bị cáo Nguyễn Văn L (sinh năm 1991) và bị hại Phạm Đình V1 gặp nhau tại quán cà phê của Võ Huyền V2 tại B, M, lời qua tiếng lại xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau L bị thương tích tay phải nhưng được mọi người can ngăn. Tức giận V1, L đến chợ P1 mua một phảng bờ cất giấu tại bãi đất trống trên đường L thuộc khu phố T, thị trấn P. Sau đó, L và V1 nhiều lần gọi điện thoại, nhắn tin thách đố và hẹn đánh nhau.

Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 25/8/2023 Nguyễn Văn L và Phạm Đình V1 tiếp tục gọi điện thoại, nhắn tin thách thức đánh nhau. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, V1 gọi điện thoại hẹn L đánh nhau tại Q huyện P thuộc khu phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định, L đồng ý. Tiếp tục, V1 điện thoại rủ Trần Quốc T5 tham gia đánh nhau với Nguyễn Văn L thì T5 đồng ý. Sau đó, V1 cầm hai cái rựa ngắn cán điều khiển xe mô tô biển số 77D1-172.83 (xe mô tô do mẹ ruột tên Ngô Thị L6, đứng tên chủ sở hữu) đến đoạn đường gần trường Trung học cơ sở thị trấn P để đón T5. Cùng thời gian trên, sau khi hẹn đánh nhau với V1, L gọi điện thoại rủ Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn V, Trần Văn L2, Trần Ngọc D, Nguyễn Thành D1 đánh nhau thì tất cả đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, L đứng tại đoạn đường L (gần quán C1 và nay) thuộc khu phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định, T điều khiển xe mô tô biển số 77D1- 440.58 (xe mô tô do Thích đứng tên chủ sở hữu) và L2 điều khiển xe mô tô biển số 77K1- 323.43 (xe mô tô do cha vợ tên Nguyễn Thanh H2, mua lại và cho L2 sử dụng làm phương tiện để đi lại) đến chỗ L. Sau khi T và L2 gặp L, L nói T và L2 đến chợ P1 mua 02 cây phảng bờ. Sau khi T và L2 mua 02 cây phảng bờ, L đem 02 cây phản bờ này cất giấu tại nơi mà L đã phảng bờ cất giấu trước đây. Sau đó, L, T và L2 lên nhà Lê Văn T3 chờ D và D1. Cùng thời gian trên, như đã hẹn với L, V1 điều khiển xe mô tô biển số 77D1- 172.83 chở T5 cầm hai cái rựa đến Quảng Trường P, V1 và T5 mỗi người cầm một cái rựa ngồi dưới gốc cây lộc vừng (đối diện quán C2). Khi đó, V điều khiển xe mô tô biển số 75H6- 6441 (xe mô tô V mua của Lê Trọng Q) đi một mình và cầm theo một cây phảng bờ, một cái rựa ngắn cán vừa đến đã bị V1 và T5 phát hiện cầm rựa rượt đuổi đánh nhưng không kịp. V điều khiển xe mô tô bỏ chạy lên hướng Quốc lộ A và trên đường đi, V gọi điện thoại cho L rồi điều khiển xe mô tô đến nhà T3 để gặp L. Khi V bỏ chạy, V1 điều khiển xe mô tô chở T5 vào quán cà phê gần Lữ Đoàn P thuộc khu phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định để uống nước. Cùng lúc đó nhóm của L đã gặp V đang trước nhà của T3 gồm có L, Thích, L2, V đứng để chờ D và D1 thì L đi vào chuồng bò nhà ông T3 lấy hai cây ba chỉa. Tiếp theo, do đứng chờ D và Dương lâu nên cả nhóm xuống thị trấn P, mang theo một phảng bờ, một cái rựa ngắn cán, hai cây ba chỉa đi đến tập trung tại đường L. Lượng đến bãi đất trống tiếp tục lấy ba cây phảng bờ giấu trước đó mang ra. Cùng lúc đó, có Nguyễn Văn L (sinh năm 1998) đi đến nhà D chơi. Do trước đó, L (sinh năm 1991) gọi điện thoại rủ D đi đánh nhau nhưng do không có xe mô tô nên D nhờ L (sinh năm 1998) chở đi xuống thị trấn P và sau đó D và L (sinh năm 1998) đi qua nhà D1 chở D1 cùng đi xuống thị trấn P, huyện P. Khi L (sinh năm 1998) chở D và D1 đi đến đoạn đường L gặp và thấy nhóm của L (sinh năm 1991) đang đứng và các hung khí để chuẩn bị đánh nhau thì tự nguyện cùng tham gia. Cùng lúc này, V1 tiếp tục gọi điện thoại cho L (sinh năm 1991) thách đố hẹn đánh nhau tại Quảng Trường P. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, L (sinh năm 1991) điều khiển xe mô tô biển số 77D1- 463.87 (xe của Nguyễn Thị Á, đứng tên chủ sở hữu) chở V (V cầm cây ba chỉa cán bằng tre, một cái rựa), D1 không cầm hung khí gì; Thích điều khiển xe mô tô biển số 77D1- 440.58 chở L2 ngồi sau cầm cây ba chỉa cán bằng sắt; L (sinh năm 1998) điều khiển xe mô tô biển số 77D1- 354.74 chở D (D ngồi sau cầm bốn cây phảng bờ). Đến ngã tư đường N với đường N thì cả nhóm đứng tại đây, L gọi điện cho V1. V1 và T5 mỗi người cầm trên tay một cái rựa ngắn cán và nhặt mỗi người một cục đá trên tay đi bộ xuống hướng ngã 4 đường N với đường N. Cùng lúc đó, L2 cầm cây ba chia cán bằng sắt, V cầm phảng bờ đi bộ xuống đứng phía Đông đường Nguyễn Trung T6, L (sinh năm 1991) cầm một phảng bờ, Dương cầm một phảng bờ, D cầm cây ba chỉa cán bằng tre, L (sinh năm 1998) cầm cây phảng bờ, T cầm cái rựa. Nhóm của L (sinh năm 1991) thấy V1 và T5 mỗi người cầm trên tay một cái rựa ngắn cán đi xuống đến ngã tư thì nhóm của L cùng nhau cầm hung khí chạy đến. V1 và T5 thấy vậy ném cục đá về hướng của L (sinh năm 1991) nhưng không trúng. Do nhóm của V1 bị yếu thế nên V1 đi lùi lại phía Bắc. T và T5 đến cầm rựa trên tay chém nhau qua lại nhưng chưa trúng ai. Khi đó, D cầm cây ba chỉa cán bằng tre trên tay xông đến chọt trúng vào tay trái của T5, T5 lùi về hướng Tây. L2 cầm cây ba chỉa phóng một cái hướng đến V1 đã trúng vào chân trái của V1. Tiếp tục, V1 cầm rựa trên tay, L (sinh năm 1991) cầm phảng chém nhau qua lại nhưng không trúng. Thấy vậy, V cầm cây phảng bờ chém một cái vào cánh tay trái của V1. Khi đó, D1 và L (sinh năm 1998) mỗi người đều cầm cây phảng bờ đứng tại ngã tư. Cùng lúc này, do bị Vũ chém trúng vào tay trái nên V1 vừa đi thụt lui vừa dùng rựa chém vào người của V nhưng Vũ né được và V xông vào dùng tay ôm người Văn nên cả V và Văn ngã xuống đường. Cùng lúc đó, T5 bỏ chạy về hướng Tây, T không đuổi đánh T5, quay lại thấy V và V1 đang giằng co và trên tay của V1 còn đang cầm cái rựa ngắn cán nên T đến lấy cái rựa hai bên giằng co rựa qua lại làm bị thương trúng tay phải và các ngón tay trái của V1. Lúc này một số người dân sinh sống gần đó hô hoán nên nhóm của L lên xe bỏ đi

Ngày 26/9/2023 Trung tâm pháp y tỉnh B có kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 280/KLTTCT-PYBĐ đối với Phạm Đình V1 như sau:

  • Vết thương cánh tay phải lộ gân nhị đầu đã phẫu thuật khâu vết thương. Hiện để sẹo rõ vùng 1/3 giữa trước cánh tay đến khuỷu tay phải; vận động cánh- cẳng tay phải trong giới hạn bình thường. Tỷ lệ 03%.

  • Vết thương ngón II, III, IV bàn tay trái sắt gọn đứt gân duỗi ngón II đến IV đã phẫu thuật khâu gân duỗi các ngón II đến IV, nứt đầu xa đốt gần ngón III, khâu vết thương, cố định nẹp bột. Hiện bàn tay trái mặt mu để các sẹo: liên đốt 1,2 ngón II; liên đốt 1,2 ngón III; liên đốt 1,2 ngón IV. Vận động các ngón II, III, IV bàn tay trái còn đau: tỷ lệ 05%.

  • Vết thương cẳng tay trái đứt gân cơ duỗi cổ tay quay, duỗi ngón I đến V, duỗi cổ tay trụ đã phẫu thuật khâu gân duỗi cổ tay quay, duỗi ngón I đến V, duỗi cổ tay trụ. Hiện để ba sẹo tiếp giáp mặt trước ngoài đoạn 1/3 giữa cẳng tay trái; vận động cổ tay trái được, gấp cổ tay đau. Tỷ lệ 07%.

  • Vết thương chột gót chân trái gây vỡ xương gót chân trái đã khâu vết thương. Hiện để sẹo đoạn dưới mắt cá ngoài gót chân trái; vận động gót chân trái còn đau. Tỷ lệ 12%.

  • Vết thương lột da gan bàn chân phải đã điều trị. Hiện để sẹo gan bàn chân phải; vận động bàn chân phải trong giới hạn bình thường. Tỷ lệ 03%.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Đình V1 tại thời điểm giám định là: 27% (Bút lục số 185-188).

Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ: một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 120cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 38cm, phần cán dài 82cm; một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 118cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 35cm, phần cán dài 83cm; một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 120cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 38cm, phần cán dài 82cm; một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi sắt nhọn có chiều dài 121cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 39cm, phần cán dài 82cm; một cây rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt nhọn cong có chiều dài 62cm, phần lưỡi dài 29cm, phần cán dài 33cm; một cây rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt nhọn cong có chiều dài 67cm, phần lưỡi dài 30cm, phần cán dài 37cm; một cái rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 0,6m, phần lưỡi dài 0,36m, phần cán dài 0,24m; một cây sắt tròn có 03 mũi nhọn, tổng chiều dài 3,405 mét, phần mũi nhọn làm bằng sắt lần lượt có kích thước là 25cm, 32cm, 25cm; một cây tre tròn có 03 mũi nhọn, tổng chiều dài 4,80 mét, phần mũi nhọn làm bằng sắt lần lượt có kích thước là 24cm, 28cm, 24cm.

  • Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn xám - xanh, số máy G3D4E643914, số khung RLCUG0610JY618183, biển số 77D1- 440.58 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 77D1- 440.58 mang tên Nguyễn Văn T.

  • Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ- đen, số máy 5C6J224172, số khung C6J0GY224171, biển số 77D1- 354.74 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 77D1- 354.74 mang tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1998.

  • Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ đen, số máy 5C6K081077, số khung RLCS5C6K0DY081080, biển số 77D1- 172.83 của bà Ngô Thị L6.

Riêng đối với 02 cục đá mà Phạm Đình V1 và Trần Quốc T5 sử dụng để ném về hướng của Nguyễn Văn L đã truy tìm nhưng không thu giữ được.

Xử lý vật chứng: Ngày 12/3/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện P đã trả lại xe mô tô biển số 77D1- 172.83 cho chủ phương tiện không liên quan đến vụ án.

Phần dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại Phạm Đình V1 số tiền 14.000.000 đồng, trong đó các bị cáo L (sinh năm 1991), V và T liên đới bồi thường 2.500.000đ, các bị cáo D, D1 và L, sinh năm 1998 mỗi bị cáo bồi thường 3.000.000đồng. Bị cáo Trần Văn L2, bồi thường 2.500.000đ, Bị hại Phạm Đình V1 đã bãi nại phần bồi thường dân sự.

Cáo trạng số 21/CT-VKS-PM, ngày 01 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L (sinh năm 1991), Nguyễn Văn TVăn L2, Nguyễn Văn V, Trần Ngọc D, Nguyễn Thành D1 và Nguyễn Văn L (sinh năm 1998) về tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L (sinh năm 1991), Nguyễn Văn T, Trần Văn L2, Nguyễn Văn V, Trần Ngọc D, Nguyễn Thành D1 và Nguyễn Văn L (sinh năm 1998) phạm tội “Cố ý gây thương tích" theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo đã liên đới bồi thường cho người bị hại Phạm Đình V1 số tiền 14.000.000đ để khắc phục hậu quả cho người bị hại, được người bị hại bãi nại, trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá và phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • Điểm đ, khoản 2, Điều 134, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L (sinh năm 1991) từ 24 đến 30 tháng tù.

  • Điểm đ, khoản 2, Điều 134, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Văn L2 từ 24 đến 30 tháng tù.

  • Điểm đ, khoản 2, Điều 134, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 17, Điều 54, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 18 đến 22 tháng tù.

  • Điểm đ, khoản 2, Điều 134, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 17, Điều 54 Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 đến 22 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

  • Điểm đ, khoản 2, Điều 134, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 17, Điều 54 Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Ngọc D từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

  • Điểm đ, khoản 2, Điều 134, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 17, Điều 54 Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D1 từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

  • Điểm đ, khoản 2, Điều 134, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 17, Điều 54 Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Phần trách nhiệm dân sự: Các bên đã thoả thuận xong, nên đề nghị không xét

- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các điểm a, c khoản 2, điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;

-Tịch thu tiêu huỷ:

  • 01 (Một) cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 120cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 38cm, phần cán dài 82cm;

  • Một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 118cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 35cm, phần cán dài 83cm;

  • Một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 120cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 38cm, phần cán dài 82cm;

  • Một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi sắt nhọn có chiều dài 121cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 39cm, phần cán dài 82cm;

  • Một cây rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt nhọn cong có chiều dài 62cm, phần lưỡi dài 29cm, phần cán dài 33cm;

  • Một cây rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt nhọn cong có chiều dài 67cm, phần lưỡi dài 30cm, phần cán dài 37cm;

  • Một cái rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 0,6m, phần lưỡi dài 0,36m, phần cán dài 0,24m;

  • Một cây sắt tròn có 03 mũi nhọn, tổng chiều dài 3,405 mét, phần mũi nhọn làm bằng sắt lần lượt có kích thước là 25cm, 32cm, 25cm;

  • Một cây tre tròn có 03 mũi nhọn, tổng chiều dài 4,80 mét, phần mũi nhọn làm bằng sắt lần lượt có kích thước là 24cm, 28cm, 24cm.

Vì những vật chứng này liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo và không còn giá trị sử dụng.

-Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn xám - xanh, số máy G3D4E643914, số khung RLCUG0610JY618183, biển số 77D1- 440.58 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 77D1- 440.58 mang tên Nguyễn Văn T, chiếc xe này liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

-Trả lại cho X mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ- đen, số máy 5C6J224172, số khung C6J0GY224171, biển số 77D1- 354.74 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 77D1- 354.74 mang tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1998, chiếc xe này không liên quan hành vi phạm tội của bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P; Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; người bị hại; không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn L (sinh năm 1991), Trần Văn L2, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T Trần Ngọc D, Nguyễn Thành D1 và Nguyễn Văn L (sinh năm 1998) không tranh luận gì với Kiểm sát viên và cũng không đưa ra chứng cứ nào để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình mà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và của người làm chứng và phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, do đó Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để xác định: Do mâu thuẫn cá nhân giữa Nguyễn Văn L (sinh năm 1991) với Phạm Đình V1, khoảng 14 giờ 30 phút tại ngã 4 đường N với đường L thuộc thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định, Nguyễn Văn L (sinh năm 1991), Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn V, Trần Văn L2, Trần Ngọc D, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Văn L (sinh năm 1998) đã có hành vi dùng cây ba chia, rựa, phảng bờ gây thương tích cho Phạm Đình V1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên 27%.

[3] Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người có đầy đủ khả năng để nhận thức được hành vi dùng hung khí tấn công vào người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì mâu thuẫn cá nhân trong lúc ngồi uống cà phê, mà các bị cáo lại không kiềm chế được bản thân mà chọn cách giải quyết bằng vũ lực, là đã có hành vi dùng cây ba chia, rựa, phảng bờ gây thương tích cho hị hại Phạm Đình V1. Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 280/KLTTCT-PYBĐ ngày 26/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B thì tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của bị hại Phạm Đình V1 là 27%. Hành vi trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, với tình tiết dùng hung khí nguy hiểm được qui định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến sức khỏe của con người, là một trong những khách thể quan trọng được Bộ luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội gây dư luận bất an cho nhân dân.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã liên đới bồi thường cho người bị hại Phạm Đình V1 số tiền 14.000.000đ để khắc phục hậu quả cho người bị hại và được người bị hại bãi nại, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong vụ án này nguyên nhân mâu thuẫn trực tiếp xuất phát từ bị hại V1 và bị cáo L sinh năm 1991 và chính V1 và T5 cầm hai cây rựa đuổi đánh bị cáo V trước, nhưng do bị cáo V bỏ chạy kịp thời, nên không đánh được. Sau đó V1 còn gọi cho bị cáo L sinh năm 1991 hẹn đánh nhau tiếp và khi gặp nhóm bị cáo L, V1 và T5 liền cầm đá ném về phía nhóm bị cáo L và V1 trực tiếp cầm rựa xông vào chém nhau với bị cáo L, sinh năm 1991 và chém V nhưng không trúng, nên hành vi của bị hại V1 cũng có một phần lỗi, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo nhằm mục đích giáo dục các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

[6] Xét về nhân thân vai trò các bị cáo trong vụ án này: Bị cáo Nguyễn Văn L, sinh năm 1991 và bị cáo Trần Văn L2 là những bị cáo có nhân thân xấu:

  • Bị cáo L, sinh năm 1991: Ngày 08/5/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Kon Plông xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Đã chấp hành xong bản án vào ngày 25/7/2014. Ngày 29/10/2007, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi Trộm cắp tài sản, thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong vào ngày 30/10/2009.

  • Bị cáo L2: Ngày 23/02/2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định vào ngày 07/3/2022.

Trong vụ án này:

  • Bị cáo Nguyễn Văn L, sinh năm 1991 là người chủ mưu cầm đầu, rủ rê các bị cáo khác phạm tội, bị cáo cũng là người chuẩn bị hung khí và trực tiếp cầm phản chém nhau với bị hại V1, nhưng không trúng, với nhân thân của bị cáo trước đây đã từng bị xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” nên mức hình phạt dành cho bị cáo phải cao hơn các bị cáo khác.

  • Đối với bị cáo Trần Văn L2 là người tham gia phạm tội rất tích cực, là người đi mua phản bờ, trực tiếp cầm cây 03 chia (cán bằng sắt) phóng vào gót chân của bị hại V1 gây thương tích 12% với nhân thân bị cáo trong vụ án này, thì mức hình phạt bị cáo L2 thấp hơn bị cáo L, sinh năm 1991 nhưng phải cao hơn các bị cáo khác.

  • Đối với bị cáo Nguyễn Văn V là em ruột bị cáo L, sinh năm 1991 cũng tham gia phạm tội với vai trò tích cực, là người chuẩn bị hung khí và trực tiếp cầm cây phản bờ chém trúng 01 cái vào tay trái của V1 gây thương tích 7%, nên xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp quy định pháp luật.

  • Đối với bị cáo Nguyễn Văn T (em ruột bị cáo L, sinh năm 1991 và bị cáo V), khi thấy bị cáo V và Văn ôm giằng co với nhau, trên tay bị cáo Văn lúc này đang cầm rựa, lo sợ bị cáo V1 gây thương tích cho bị cáo V, nên bị cáo T đến lấy cái rựa từ tay bị cáo Văn hai bên giằng co với nhau làm cây rựa trúng tay phải và tay trái V1 gây thương tích cho Văn 8%. Thấy rằng hành vi của bị cáo T cũng nguy hiểm, nhưng vì muốn bảo vệ cho các anh của mình, nên bị cáo mới phạm tội, gia đình bị cáo có 03 anh em, nhưng hai anh của bị cáo đã bị xử phạt tù trong vụ này, cha mẹ bị cáo hiện đã sống ly thân, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện là người trực tiếp sống chung và chăm sóc bà Nguyễn Thị C là mẹ bị cáo. Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân; bị cáo nhất thời phạm tội, tại phiên tòa biết ăn năn hối cải, có tinh thần bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả tốt, vì sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, nghĩ nên xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo để có điều chăm sóc cho gia đình, đồng thời tạo sự an tâm cho bị cáo L và V là anh ruột bị cáo có động lực, niềm tin vào sự nhân văn của pháp luật mà cố gắng phấn đấu, cải tạo tu dưỡng, trong quá trình chấp hành án.

Đối với các bị cáo Trần Ngọc D, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Văn L, sinh năm 1998: Trong vụ án này các bị cáo này đều giữ vai trò thứ yếu, các bị cáo mặc dù có cầm hung khí, nhưng không tham gia đánh nhau và cũng không gây thương tích cho ai. Các bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân; các bị cáo nhất thời phạm tội, tại phiên tòa biết ăn năn hối cải, có tinh thần bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả tốt. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt, đồng thời cho các bị cáo được hưởng hình phạt có điều kiện và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung tội phạm và nhận định này của Hội đồng xét xử là phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[7] Xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bên đã thoả thuận xong phần bồi thường thiệt hại.

[8] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • 01 (Một) cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 120cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 38cm, phần cán dài 82cm;

  • Một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 118cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 35cm, phần cán dài 83cm;

  • Một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 120cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 38cm, phần cán dài 82cm;

  • Một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi sắt nhọn có chiều dài 121cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 39cm, phần cán dài 82cm;

  • Một cây rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt nhọn cong có chiều dài 62cm, phần lưỡi dài 29cm, phần cán dài 33cm;

  • Một cây rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt nhọn cong có chiều dài 67cm, phần lưỡi dài 30cm, phần cán dài 37cm;

  • Một cái rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 0,6m, phần lưỡi dài 0,36m, phần cán dài 0,24m;

  • Một cây sắt tròn có 03 mũi nhọn, tổng chiều dài 3,405 mét, phần mũi nhọn làm bằng sắt lần lượt có kích thước là 25cm, 32cm, 25cm;

  • Một cây tre tròn có 03 mũi nhọn, tổng chiều dài 4,80 mét, phần mũi nhọn làm bằng sắt lần lượt có kích thước là 24cm, 28cm, 24cm.

Vì những vật chứng này liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo và không còn giá trị sử dụng, nên tuyên tịch thu tiêu huỷ

Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn xám - xanh, số máy G3D4E643914, số khung RLCUG0610JY618183, biển số 77D1- 440.58 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 77D1- 440.58 mang tên Nguyễn Văn T, chiếc xe này bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước

Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ- đen, số máy 5C6J224172, số khung C6J0GY224171, biển số 77D1- 354.74 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 77D1- 354.74 mang tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1998, chiếc xe này không liên quan hành vi phạm tội của bị cáo, vì mục đích ban đầu bị cáo L sử dụng chiếc xe này đến nhà bị cáo D1 để chơi và khi đến tụ tập với nhóm bị cáo L, sinh năm 1991, thì bị cáo mới biết đang chờ đánh nhau với V1, nên bị cáo tự ý tham gia đánh nhau với đồng bọn, vì vậy xe trên không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên tuyên trả lại cho bị cáo.

[9] Xét về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ, khoản 1 Điều 12 và điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

[10] Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị là tương đối phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[11] Đối với các vấn đề khác:

  • Khi Phạm Đình V1 và Trần Quốc T5 cầm hung khí chém đánh nhau qua lại với nhóm của L (sinh năm 1991) tại khu vực ngã 4 đoạn đường mà 2 bên sử dụng hung khí đánh nhau là tuyến đường giao thông công cộng nhưng ít phương tiện qua lại và tại khu vực xung quanh nơi xảy ra đánh nhau không có nhà dân sinh sống, thời gian diễn ra đánh nhau ngắn khoảng 03 phút, trong lúc đánh nhau, T5 và V1 và các bị cáo không la hét, không rượt đuổi, mọi hoạt động của người dân vẫn hoạt động bình thường chưa bị ảnh hưởng xấu gì về tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, do đó cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện P không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng, Cơ quan công an xử phạt hành chính đối với V1 và T5 là phù hợp.

  • Đối với hành vi Phạm Đình V1 gây thương tích cho bị cáo Nguyễn Văn L (sinh năm 1991) vào ngày 24/8/2023, Nguyễn Văn L không yêu cầu không xem xét xử hình sự. Cơ quan công an ra quyết định xử phạt hành chính đối với Phạm Đình V1 đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ điểm đ, khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn L, sinh năm 1991, Trần Văn L2 và Nguyễn Văn V.

-Căn cứ điểm đ, khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn T.

-Căn cứ điểm đ, khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Ngọc D, Nguyễn Thành D1 và bị cáo Nguyễn Văn L, sinh năm 1998.

-Căn cứ Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c, khoản 2 điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

-Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, sinh năm 1991, Trần Văn L2, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T, Trần Ngọc D, Nguyễn Thành D1 và Nguyễn Văn L, sinh năm 1998 phạm tội: “Cố ý gây thương tích".

  2. Về hình phạt:

    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L, (sinh ngày 06/01/1991) 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam trước (ngày 17/10/2023 đến ngày 14/3/2024).

    2. Xử phạt bị cáo Trần Văn L2 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam trước (ngày 17/10/2023 đến ngày 14/3/2024).

    3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam trước (ngày 17/10/2023 đến ngày 14/3/2024).

    4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/6/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

    1. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc D 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/6/2024).

Giao bị cáo Trần Ngọc D cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D1 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/6/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Thành D1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L, (sinh ngày 24/3/1998) 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/6/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Văn L sinh ngày 24/3/1998 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bên đã thoả thuận xong, nên Hội đồng xét xử không xét.

  2. Về vật chứng vụ án và các biện pháp tư pháp:

    1. Tịch thu tiêu huỷ:

      • 01 (Một) cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 120cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 38cm, phần cán dài 82cm;

      • Một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 118cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 35cm, phần cán dài 83cm;

      • Một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 120cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 38cm, phần cán dài 82cm;

      • Một cây phảng bờ, cán bằng tre, lưỡi sắt nhọn có chiều dài 121cm, phần lưỡi sắt nhọn có chiều dài 39cm, phần cán dài 82cm;

      • Một cây rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt nhọn cong có chiều dài 62cm, phần lưỡi dài 29cm, phần cán dài 33cm;

      • Một cây rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt nhọn cong có chiều dài 67cm, phần lưỡi dài 30cm, phần cán dài 37cm;

      • Một cái rựa, cán bằng tre, lưỡi bằng sắt có chiều dài 0,6m, phần lưỡi dài 0,36m, phần cán dài 0,24m;

      • Một cây sắt tròn có 03 mũi nhọn, tổng chiều dài 3,405 mét, phần mũi nhọn làm bằng sắt lần lượt có kích thước là 25cm, 32cm, 25cm;

      • Một cây tre tròn có 03 mũi nhọn, tổng chiều dài 4,80 mét, phần mũi nhọn làm bằng sắt lần lượt có kích thước là 24cm, 28cm, 24cm.

      4.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn xám xanh, số máy G3D4E643914, số khung RLCUG0610JY618183, biển số 77D1-440.58 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 77D1-440.58 mang tên Nguyễn Văn T.

54.3 Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L, sinh năm 1998

Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ- đen, số máy 5C6J224172, số khung C6J0GY224171, biển số 77D1-354.74 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 77D1-354.74 mang tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1998.

Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

  1. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn L, sinh năm 1991, Trần Văn L2, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T, Trần Ngọc D, Nguyễn Thành D1 và Nguyễn Văn L, sinh năm 1998 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung ngân sách nhà nước.

  2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại Toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/6/2024). Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Định;
  • -VKSND tỉnh Bình Định;
  • -VKSND H. Phù Mỹ;
  • -Công an H.Phù Mỹ;
  • - Bị cáo;
  • - bị hại;
  • -Người có QLNVLQ;
  • -Chi cục THADS H.Phù Mỹ;
  • -Lưu VP- HSVA;
  • -THA phạt tù.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Tân

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Văn Hoà - Lê Tiến Dũng

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L, Trần Văn L, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T, Trần Ngọc D, Nguyễn Thành D và Nguyễn Văn L, sn 1998 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger