|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM Bản án số: 26/2024/HS-PT Ngày: 02/12/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Huỳnh Nguyên .
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Thuấn.
Bà Nguyễn Thị Như Mai.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hồ Huyền Trâm - Thư ký TAND tỉnh Kon Tum.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Trúc Mai và bà Nguyễn Thị Bích Phương - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 02-12-2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 86/2024/TLPT-HS ngày 30/10/2024 đối với bị cáo A K, do có kháng cáo của bị cáo A K và người đại diện hợp pháp của bị hại, chị Vũ Thị P1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của TAND huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
Bị cáo có kháng cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại – chị Vũ Thị P1 kháng cáo:
A K; sinh ngày 16/10/2003 tại tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Tơ Đra; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A K1 (Đã chết) và bà Y Đ, sinh năm 1966; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến nay, có mặt.
- Bị hại: Anh Trần Ngọc L, sinh năm 1987 (đã chết).
Trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại gồm:
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1953 (Cha bị hại).
- Bà Ngô Thị Thu P2, sinh năm 1956 (Mẹ bị hại).
- Chị Vũ Thị P1, sinh năm 1984 (Vợ bị hại).
Trú tại: Tổ D, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
Cùng trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
Ông Trần Văn T, bà Ngô Thị Thu P2 và chị Vũ Thị P1 ủy quyền cho chị Trần Thị Bích L1, sinh năm 1984; Trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để giải quyết vụ việc (Văn bản ủy quyền ngày 04/6/2024 và 13/6/2024).
(Tất cả đều có đơn xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Y Đ, sinh năm 1966. Có mặt.
- Cháu Trần Ngọc Bảo C, sinh năm 2010; cháu Trần Ngọc Bảo N, sinh năm 2012 và cháu Trần Ngọc Bảo Đ1, sinh năm 2016 là các con của bị hại. Người đại diện hợp pháp chị Vũ Thị P1, sinh năm 1984 là mẹ ruột. Chị Vũ Thị P1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 29/5/2024, A K uống rượu cùng với Trần Ngọc L, A T1, A T2 tại quán gần khu vực đồi thông xã Đ. Trong quá trình uống rượu, L rủ A K đi đến thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để chở tủ về nhà cho L thì A K đồng ý. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô về nhà lấy xe máy kéo kéo theo rơ mooc của gia đình đến đồi thông để đón A K. Lúc này A K nói “Anh Lơi để em chạy xe cho” thì L đồng ý, A K ngồi vào ghế lái rồi điều khiển xe đi về hướng thôn H, xã Đ còn L ngồi sang nắp chắn bùn bên phải của xe máy kéo chỉ cho A K cách điều khiển xe. Khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn H, xã Đ, vì chuẩn bị lên dốc nên A K điều khiển xe chuyển số sau đó đạp chân ga để xe chạy nhanh. Lúc này, A K phát hiện phía trước bên trái đường có một vũng nước to nên A K đánh lái sang phải để tránh vũng nước thì xe máy kéo kéo theo rơ mooc di chuyển sát mương thoát nước phía bên phải. Sau đó, A K vội đánh lái để xe di chuyển sang trái thì xe máy kéo kéo theo rơ mooc di chuyển sang sát mép đường nhựa bên trái. Lúc này, A K không giảm tốc độ mà đánh lái ngay sang phải để đưa xe về giữa đường, vì đánh lái gấp nên L bị ngã ngửa ra phía sau rơi xuống đường và bị thương, phần đầu máy kéo lao xuống mương thoát nước tông vào bờ đất, phần rơ mooc bị lật nghiêng sang trái. Hậu quả: Trần Ngọc L tử vong trên đường đi cấp cứu, xe máy kéo kéo theo rơ mooc bị hư hỏng nhẹ.
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà đã xét xử sơ thẩm và quyết định: Tuyên bố: Bị cáo A K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo A K 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 07/6/2024.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/10/2024, bị cáo A K có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã nêu và xin giảm hình phạt.
Ngày 08/10/2024, người đại diện hợp pháp của bị hại chị Vũ Thị P1 có kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo A K hưởng án treo. Ngày 21/11/2024 những người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến giữ nguyên quan điểm như đơn kháng cáo của chị Vũ Thị P1.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về đơn kháng cáo của bị A K, đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại, chị Vũ Thị P1 đề nghị giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại về trình tự thủ tục, thời hạn và thẩm quyền đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại là bà Vũ Thị P1, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của TAND huyện Đăk Hà.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của bị cáo A K và người đại diện hợp pháp của bị hại chị Vũ Thị P1 trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo A K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 29/5/2024, bị cáo A K mặc dù trước đó đã uống rượu, trong hơi thở có nồng độ cồn 0,886mg/L và chưa có giấy phép lái xe theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 59 Luật Giao thông đường bộ nhưng vẫn xin Trần Ngọc L cho mình điều khiển xe máy kéo kéo theo rơ mooc. Trong lúc bị cáo A K điều khiển xe máy keo thì Trần Ngọc L ngồi trên nắp chắn bùn bên phải của xe để chỉ cho A K cách điều khiển xe. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, do đây là lần thứ hai điều khiển xe máy kéo nên bị cáo A K đã không thực hiện đúng quy tắc giao thông đường bộ, không làm chủ được tốc độ và tay lái, không xử lý được tình huống giao thông, đạp ga và đánh lái gấp khi tránh vũng nước làm cho anh Trần Ngọc L bị ngã ngửa ra phía sau ngã xuống đường dẫn đến bị thương và tử vong trên đường đi cấp cứu. Hành vi của bị cáo A K đã vi phạm các khoản 8, 9, 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại rượu, bia năm 2019 và vi phạm nguyên tắc chấp hành quy định về tốc độ khi điều khiển phương tiện trên đường bộ được quy định tại Điều 4 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy, hành vi của bị cáo A K đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thuộc trường hợp “Không có giấy phép lái xe theo quy định” và “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Toà án nhân dân cấp sơ thẩm xét xử bị cáo A K về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo của người đại diện hợp pháp của bị hại, chị Vũ Thị P1:
Bị cáo A K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động cho mẹ bị cáo bồi thường dân sự cho gia đình bị hại 100.000.000 đồng và đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo ngoài ra trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi, Toà án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cũng như áp dụng khoản 1 Điều 54 để xử phạt bị cáo một mức án thấp nhất của khung hình phạt liền kề và xử phạt bị cáo 26 tháng tù là có căn cứ và phù hợp với tính chất mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 do mẹ bị cáo đã thay bị cáo giao nộp tài liệu chứng cứ gồm: Giấy khen học sinh tiên tiến của bị cáo, giấy khen của mẹ bị cáo và giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tuy nhiên để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và kháng cáo xin cho hưởng án treo của người đại diện hợp pháp của bị hại – chị Vũ Thị P1.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo A K, người đại diện hợp pháp của bị hại chị Vũ Thị P1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm a, b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo A K, kháng cáo xin cho bị cáo hưởng án treo của người đại diện hợp pháp của bị hại Vũ Thị P1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Đăk Hà.
Xử phạt bị cáo A K 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam. (07/6/2024)
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo A K và chị Vũ Thị P1 mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (02/12/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Nguyên |
Bản án số 26/2024/HS-PT ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 26/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bác đơn kháng cáo
