Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-6-2024

“ V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Cương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu

Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Sương – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65 ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị L, sinh năm 1990; Địa chỉ đăng ký thường trú: Tổ F, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Địa chỉ hiện nay: A đường P, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn P, sinh năm 1982; Địa chỉ: A T, tổ F, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/12/2023 và bản tự khai ngày 05/3/2024, biên bản hòa giải ngày 05/3/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn Hồ Thị L trình bày:

Bà Hồ Thị L và ông Nguyễn P kết hôn với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, TP Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 20/5/2008). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại tổ F, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Quá trình chung sống đến năm 2019 thì vợ chồng bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp; chồng có quan hệ ngoại tình, thường xuyên gây sự, kiếm cớ bạo hạnh vợ con. Vì các con, bà L đã nhiều lần cho cơ hội mong ông P sửa đổi để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng ông P không thay đổi. Từ năm 2021 cho đến nay vợ chồng bà đã sống ly thân với nhau, bản thân bà L đã dẫn 2 con đi thuê nhà trọ tại đường P, phường H, quận C sinh sống, quá trình sống ly thân vợ chồng bà không quan tâm, chăm sóc nhau.

Hiện nay về tình cảm bà L xác định không còn yêu thương gì với ông P, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể sống chung với nhau được nữa. Do đó, bà Hồ Thị L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn P.

- Về quan hệ con chung: Bà Hồ Thị L xác định vợ chồng bà có 02 con chung tên: Nguyễn Thúy H, sinh ngày 12/7/2008 và Nguyễn Thúy P1, sinh ngày 19/03/2011. Ly hôn bà L đề nghị giao 02 con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng. Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án bà L yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy H và Nguyễn Thúy P1 mỗi con chung 2.000.000 đồng/ tháng (02 con chung cấp dưỡng 4 triệu đồng/tháng). Tại phiên tòa, bà Hồ Thị L thay đổi yêu cầu về cấp dưỡng, theo đó, bà L chỉ yêu cầu ông Nguyễn P cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy P1 mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp dưỡng từ tháng 7/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy H.

- Về tài sản chung: Bà L xác định vợ chồng không có tài sản chung

- Về nợ chung: Bà L xác định vợ chồng bà không có nợ chung.

Tại bản tự khai ngày 05/3/2024, biên bản hòa giải ngày 05/3/2024 bị đơn ông Nguyễn Phúc trình bày:

Ông Nguyễn P thống nhất với trình bày của bà Hồ Thị L về thời gian và điều kiện kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng ông chung sống tại tổ F, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Trong quá trình sinh sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do nhiều nguyên nhân, trong đó có lỗi của bản thân ông vì đã có quan hệ ngoại tình. Tuy nhiên ông P cho rằng mâu thuẫn chưa thực sự lớn, vợ chồng còn có thể hàn gắn được. Mặt khác, hiện nay các con đang còn nhỏ, đang tuổi ăn học. Do đó ông P đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con tốt hơn.

- Về quan hệ con chung: Ông P thống nhất với trình bày của bà L xác định vợ chồng có 2 con chung tên Nguyễn Thúy H, sinh ngày 12/7/2008 và Nguyễn Thúy P1, sinh ngày 19/03/2011. Ông P mong Tòa an hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con cái tốt hơn. Trường hợp Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn thì P đề nghị giao mỗi người nuôi dưỡng, chăm sóc một con chung. Trường hợp các con có nguyện vọng ở với mẹ (bà L) thì ông P đồng ý giao 02 con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng nhưng ông P sẽ không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản chung: Ông P thống nhất với trình bày của bà L xác định vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Ông P thống nhất với trình bày của bà L xác định vợ chồng không có nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa: Qúa trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định tại các Điều từ Điều 239 đến Điều 243; Điều 247; Điều 249 đến Điều 252; Điều 258 và Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Việc tuyên thủ pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Bị đơn chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự không tham gia phiên hòa giải lần 2, không tham gia phiên tòa lần 1 và lần 2.

Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Hồ Thị L và ông Nguyễn P đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, xử cho bà Hồ Thị L được ly hôn với ông Nguyễn P.

Về con chung: Bà L đề nghị giao 2 con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng; tại bản tự ngày khai 05/3/2024 các con chung là cháu Nguyễn Thúy H và Nguyễn Thúy P1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung tên Nguyễn Thúy H, sinh ngày 12/7/2008 và Nguyễn Thúy P1, sinh ngày 19/03/2011 cho bà Hồ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa, bà Hồ Thị L thay đổi yêu cầu về cấp dưỡng, theo đó, bà L chỉ yêu cầu ông Nguyễn P cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy P1 mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp dưỡng từ tháng 7/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy H. Xét thấy mức yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của bà L là phù hợp đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L, ông P thống nhất xác định không có nên không xem xét.

Về án phí: nguyên đơn bà Hồ Thị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình; bị đơn ông Nguyễn P phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” bị đơn là ông Nguyễn P có địa chỉ nơi cư trú tại: số A T, tổ F, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Do đó, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn P vắng mặt, tuy nhiên đây là lần vắng mặt thứ 2 của ông P. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn P.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của các đương sự, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày, nguyện vọng của các bên và ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị L và ông Nguyễn P kết hôn với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, TP Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 20/5/2008). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng chung sống tại tổ F, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Qúa trình chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp; ông P quan hệ ngoại tình. Từ năm 2021 đến nay vợ chồng bà đã sống ly thân với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện nay về tình cảm bà L xác định không còn yêu thương gì với ông P, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể sống chung với nhau được nữa. Do đó, bà Hồ Thị L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn P.

Theo kết quả xác minh tại địa phương xác định vợ chồng ông P, bà L có mâu thuẫn hay không và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm được. Hiện nay bà L và ông P đã sống ly thân với nhau, ông P vẫn sinh sống tại A đường T, tổ F, phường H, còn bà L đã dẫn 02 con ra ở trọ tại đường P.

Như vậy, việc bà L, ông P trình bày vợ chồng ông bà có mâu thuẫn với nhau, đã sống ly thân với nhau nhiều năm nay là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng bà L, ông P đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên hòa giải ngày 05/3/2024 ông P mong muốn hòa giải xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên các phiên hòa giải sau đó và tại các phiên tòa lần 1, lần 2 ông P đều vắng mặt. Điều này thể hiện bản thân ông P không có thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L, xử cho bà Hồ Thị L được ly hôn với ông Nguyễn P.

[3] Về quan hệ con chung: Bà Hồ Thị L và ông Nguyễn P đều thống nhất xác định vợ chồng bà có 02 con chung tên Nguyễn Thúy H, sinh ngày 12/7/2008 và Nguyễn Thúy P1, sinh ngày 19/03/2011. Ly hôn bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung; bị đơn ông Nguyễn P đồng ý giao con cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc theo nguyện vọng của các con, các con chung Nguyễn Thúy H, Nguyễn Thúy P1 cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, giao 02 con chung tên Nguyễn Thúy H và Nguyễn Thúy P1 cho bà Hồ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án bà Hồ Thị L yêu cầu ông Nguyễn P phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy H và Nguyễn Thúy P1 mỗi con chung 2.000.000 đồng/ tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi (02 con chung cấp dưỡng 4 triệu đồng/tháng). Tại phiên tòa, bà Hồ Thị L thay đổi yêu cầu về cấp dưỡng, theo đó, bà L chỉ yêu cầu ông Nguyễn P cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy P1, sinh ngày 19/03/2011 mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp dưỡng từ tháng 7/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy H.

Hội đồng xét xử thấy mức yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy P1 mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) của bà Hồ Thị L là phù hợp với thu nhập của ông P và nhu cầu thực tế và mức sống tại địa phương của con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc ông Nguyễn P phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy P1 mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), cấp dưỡng từ tháng 7/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi, cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng.

[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Hồ Thị L và ông Nguyễn P thống nhất xác định không có nên không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Hồ Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm; Ông Nguyễn P phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L đối với ông Nguyễn P về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Hồ Thị L được ly hôn với ông Nguyễn P.

2.2 Về con chung:

Giao 02 con chung tên Nguyễn Thúy H, sinh ngày 12/7/2008 và Nguyễn Thúy P1, sinh ngày 19/03/2011 cho bà Hồ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc ông Nguyễn P phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thúy P1, sinh ngày 19/03/2011 mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con chung Nguyễn Thúy P1 đủ 18 tuổi, cấp dưỡng vào ngày 10 hàng tháng.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2.3 Về tài sản chung: Bà Hồ Thị L, ông Nguyễn P thống nhất xác định không có nên không xem xét.

2.4 Về nợ chung: Bà Hồ Thị L, ông Nguyễn P thống nhất xác định không có nên không xem xét.

3. Về án phí:

- Bà Hồ Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0000607 ngày 11/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ (như vậy bà L đã nộp đủ án phí).

- Ông Nguyễn P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.

4. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THA DS quận Cẩm Lệ;
  • - UBND P. Hòa An, Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng
  • (GCNĐKH số 103/2017 ngày 09/10/2017)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phan Văn Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Hôn nhân gia đình Hồ Thị L, Nguyễn P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger