|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07/6/2024
V/v tranh chấp: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Viết Ngoan
- Bà Trần Thúy Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn – là Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viên kiểm sát nhân dân quận T – thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc C – kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hà Văn T – sinh năm: 1998 (xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy N – sinh năm: 1993 (vắng mặt lần thứ 2)
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn ông Hà Văn T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: trước đây ông Hà Văn T và bà Nguyễn Thị Thúy N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V ngày 19/11/2018. Vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì bà N bỏ nhà đi nên vợ chồng ly thân đến nay, nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tính không phù hợp, thường hay cãi vã làm cho hạnh phúc gia đình bị đỗ vỡ, không thể hàn gắn lại được. Nay ông T xác định không còn tình cảm, không thể tiếp tục sống chung nên yêu cầu xin ly hôn với bà N.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Hà Gia B – sinh ngày 01/10/2017 và Hà Gia P – sinh ngày: 10/6/2019, cả 02 con hiện đang sống với ông T. Khi ly hôn, ông T yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cả 02 con, không yêu cầu bà N cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy N: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà N không đến Tòa để giải quyết vụ án. Qua xác minh thực tế chính quyền địa phương cho biết bà N thường xuyên vắng mặt tại địa phương, thường đi làm ăn ở xa, đi đi về về chứ không ở cố định, bà N thường về thăm nhà vào các dịp đám giỗ, lễ tết nguyên đán, khi đi bà N không có thông báo địa chỉ cụ thể cho ông T và chính quyền địa phương biết.
Do bà N vắng mặt khỏi địa phương, vụ án không tiến hành hòa giải được nên được đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên toà hôm nay: Nguyên đơn ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn bà N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên toà của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự là đúng theo quy định pháp luật. Đồng thời, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho ông Hà Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy N.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Hà Gia B và Hà Gia P cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông T xác định không có, nếu bà N có tranh chấp sẽ được giải quyết thành vụ kiện khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về việc “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt.
- [2] Về thủ tục tố tụng: Xét việc bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy N đã bỏ đi khỏi địa phương, theo hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017, trường hợp này nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn, bà N thay đổi nơi cư trú mà không có thông báo cho ông T và chính quyền địa phương biết về nơi cư trú mới cho nên Tòa án vẫn tiếp tục thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục chung. Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, do bà N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N là phù hợp. Đối với nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt ông T là phù hợp.
- [3] Xét về quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà N có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định tuy nhiên trong quá trình chung sống thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, bà N bỏ nhà đi từ năm 2020 đến nay, vợ chồng sống ly thân không tìm được biện pháp hàn gắn tình cảm để tiếp tục chung sống nên ông T nộp đơn đến Tòa án yêu cầu được ly hôn với bà N. Hội đồng xét xử xét thấy, giữa ông T và bà N phát sinh mâu thuẫn và ly thân đã hơn 04 năm nhưng không hàn gắn lại được, mỗi người sống một nơi. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng là trầm trọng, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân thì cũng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho ông T được ly hôn với bà N là phù hợp.
- [4] Về con chung: Ông T xác định quá trình chung sống với bà N có 02 con chung tên là Hà Gia B – sinh ngày 01/10/2017 và Hà Gia P – sinh ngày: 10/6/2019, cả 02 con hiện đang sống với ông T. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi ly thân đến nay cả 02 cháu do ông T trực tiếp nuôi dưỡng ổn định và nguyện vọng hiện nay của 02 cháu cũng muốn tiếp tục sống với cha. Do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên tiếp tục giao cháu B và cháu P cho ông T được quyền nuôi dưỡng là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con, do ông T không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
- [5] Về tài sản chung và nợ chung: Ông T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của bà N về vấn đề này, nếu sau này bà N có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết thành vụ kiện khác.
- [6] Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014;
- Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Hà Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy N.
Về con chung: Ông, bà có 02 con chung tên là Hà Gia B – sinh ngày 01/10/2017 và Hà Gia P – sinh ngày: 10/6/2019, cả 02 con hiện đang sống với ông T. Khi ly hôn, tiếp tục giao cháu Hà Gia B và Hà Gia P cho ông Hà Văn T được quyền nuôi dưỡng, bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà N, không ai có quyền cản trở. Ông T và bà N có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Hà Văn T phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005135 ngày 16/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt (công nhận đã nộp xong).
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa NGUYỄN TRUNG HIẾU |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị đơn vắng mặt
