Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/DSST

Ngày 19 tháng 9 năm 2024

V/v: "Tranh chấp hợp đồng

đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hòa Thanh
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Đỗ Ngọc Qúy
: Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Huynh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 66/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2023, về việc “tranh chấp về hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-DS ngày 29/8/2023; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 04/TB-TA ngày 08/9/2023; quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 03/2023/QĐST-DS ngày 27/9/2023; Thông báo thời gian tiếp tục phiên tòa số: 02/TB-TA ngày 19/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C - sinh năm: 1960; Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Hồ Quốc P - sinh năm: 1979; trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Anh P có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B - sinh năm: 1986; Trú tại: Tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Ngọc P1 - sinh năm: 1983; Trú tại: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

1

Người làm chứng:

  1. Anh Lê Văn T (tên gọi khác: Chuối) - sinh năm: 1984; Trú tại: Tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị Đinh T1; Trú tại: Tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 5 năm 2023; các lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Hồ Quốc P trình bày:

Vào ngày 06/5/2022 bà C và ông Nguyễn Văn B có thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 49 (bản đồ địa chính thị trấn V), vị trí thửa đất tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Hai bên thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất trên với giá là 1.250.000.000₫ (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng).

Hai bên ký hợp đồng đặt cọc, theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc thì vào ngày 06/5/2023 bà C giao số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng); ngày 13/5/2022 tiếp tục giao số tiền 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng) và đến ngày 06/7/2022 thì thanh toán toàn bộ số tiền còn lại.

Tuy nhiên sau đó bà C được biết thửa đất số 179, tờ bản đồ số 49 (bản đồ địa chính thị trấn V) ông B đang thế chấp để vay vốn Ngân hàng; đồng thời ông B cũng đã nhận tiền cọc để chuyển nhượng thửa đất trên cho người khác nhưng hai bên chưa thực hiện xong thủ tục chuyển nhượng và hiện có đơn đề nghị ngăn chặn giao dịch tại Văn phòng đăng ký đất đại huyện V, bà C đã liên hệ với ông B để đề nghị giải quyết, ông B năn nỉ bà C đưa thêm cho ông B một số tiền để ông B trả nợ và lấy sổ đỏ về. Vì vậy bà C đã đưa tiếp cho ông B số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Tổng cộng hai lần bà C đưa cho ông B số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Bà C đã nhiều lần trực tiếp liên hệ với ông B để yêu cầu ông B làm thủ tục chuyển nhượng đất để bà C trả đủ tiền nhưng ông B cứ im lặng. Sau đó ông B bảo không chuyển nhượng đất cho bà C nữa, ông B hứa sẽ trả lại cho bà C số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) nhưng đến nay ông B vẫn không trả.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 06/5/2022 giữa bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn B. Yêu cầu ông

2

Nguyễn Văn B trả lại cho bà Nguyễn Thị C 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) một lần và không yêu cầu phạt cọc

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/6/2023 bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:

Vào ngày 06/5/2022 thông qua ông Lê Văn T (tên thường gọi là C1) ông B có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối bà Nguyễn Thị C tại thửa đất số 179, tờ bản đồ số 49 (bản đồ địa chính thị trấn V), vị trí thửa đất tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Hai bên thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất trên với giá là 1.250.000.000đ (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng).

Hai bên ký hợp đồng đặt cọc, theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc thì vào ngày 06/5/2022 bên mua phải giao cho ông B số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng); ngày 13/5/2022 tiếp tục giao số tiền 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng) và đến ngày 06/7/2022 thì thanh toán toàn bộ số tiền còn lại. Tuy nhiên đến lần giao tiền thứ 2 thì bên mua không giao đủ số tiền 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng) mà chỉ đưa số tiền 50.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng) và hẹn mấy ngày nữa sẽ đưa tiếp nhưng đến hết thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc vẫn không đưa. Tổng công hai lần ông B chỉ nhận số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

Giấy hợp đồng đặt cọc đề ngày 06/5/2022 là do ông C1 viết dùm, chữ ký B và Nguyễn Văn B trong hợp đồng đặt cọc là của vợ ông là Nguyễn Thị Đinh T1 (vợ ông B ký dùm ông B do ông B không viết được họ tên của mình), khi vợ ông B ký thay ông B thì ông B cũng có mặt ở đó.

Ông B xác định ông chỉ chuyển nhượng đất cho ông C1, còn ông C1 mua cho ai thì ông không biết. Trong số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) mà ông B nhận đều do ông C1 đưa trực tiếp cho ông, bà C không đưa tiền cho ông B.

Đến hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc nhưng bên người mua không thực hiện thỏa thuận nên ông B không đồng ý chuyển nhượng nữa và có hứa khi nào ông B chuyển nhượng được thửa đất trên thì sẽ cho lại 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Hiện nay ông B đã chuyển nhượng thửa đất trên cho người khác, đã nhận đủ tiền nhưng do chuyển nhượng với giá thấp hơn ban đầu chuyển nhượng cho bên ông C1 nên ông B không đồng ý cho lại số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Nay bà Nguyễn Thị C khởi kiện yêu cầu ông B phải trả lại 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) tiền đặt cọc thì ông B không đồng ý vì bên bà C vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc thì phải mất số tiền trên.

Tại bản tự khai ngày 24/11/2023 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Ngọc P1 trình bày:

3

Vào ngày 19/5/2023 ông P1 có nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Bình Q sử dụng đất đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 49 (bản đồ địa chính thị trấn V), vị trí thửa đất tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Hai bên thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất trên với giá là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng).

Hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông P1 đã giao đủ tiền cho ông B nhận và anh B đã bàn giao cho ông P1 quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 49 (bản đồ địa chính thị trấn V), vị trí thửa đất tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên khi ông P1 nộp hồ sơ đăng ký biến động thì bị từ chối giải quyết vì bà C đã làm đơn đề nghị ngăn chặn các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của ông B. Ông P1 đề nghị Tòa hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” giữa bà C và ông B vì việc ông P1 chuyển nhượng đất từ ông B là hợp pháp, ông P1 không biết gì về việc ông B nhận tiền đặt cọc của người khác nhưng không thực hiện.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 30 tháng 6 năm 2023 người làm chứng anh Lê Văn T (tên gọi khác: C1) trình bày:

Vào ngày 06/5/2022 anh C1 có giới thiệu cho bà Nguyễn Thị C (thông qua con trai của bà C là anh Hồ Quốc P) nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn B trú tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thửa đất số 179, tờ bản đồ số 49 (bản đồ địa chính thị trấn V), vị trí thửa đất tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Hai bên thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất trên với giá là 1.250.000.000đ (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng).

Hai bên ký hợp đồng đặt cọc, hợp đồng đặt cọc là do vợ ông B viết, khi viết Hợp đồng đặt cọc thì có ông B, vợ ông B là Nguyễn Thị Đinh T1 và anh T. Anh T là người trực tiếp đưa tiền cho ông B. Tổng cộng hai lần anh T đưa ông B nhận số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Vì ông B không biết chữ nên vợ ông B ký tên B và Nguyễn Văn B trong Hợp đồng đặt cọc thay cho ông B.

Tiền đưa cho ông B là do con trai bà C là anh P đưa cho anh T, việc chuyển nhượng đất là giữa bà C, con trai bà C với ông B chứ không liên quan gì đến anh T. Giá cả chuyển nhượng cũng do bà C, anh P và ông B thỏa thuận với nhau, anh T chỉ là người giới thiệu chứ anh T không phải là người nhận chuyển nhượng đất của ông B.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn, bị đơn

4

đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 70, 71, 72 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Qua yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C, xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng đặt cọc, bị đơn ông Nguyễn Văn B đang cư trú tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, nên Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa thụ lý, giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn B; người làm chứng chị Nguyễn Thị Đinh T1 đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Ngọc P1 và người làm chứng anh Lê Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt. Sau khi xem xét, Hội đồng xét xử nhận thấy đây đơn xin xét xử vắng mặt của anh P1 và anh T là đúng quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về hợp đồng đặt cọc ngày 06/5/2022.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn và bị đơn, người làm chứng đều thừa nhận, ngày 06/5/2022 các bên có ký kết hợp đồng đặt cọc với mục đích để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 49 (bản đồ địa chính thị trấn V), vị trí thửa đất tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Hai bên thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất trên với giá là 1.250.000.000đ (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng).

Thời hạn đặt cọc từ ngày 06/5/2022 đến ngày 06/7/2022, các bên thỏa thuận phương thức thanh toán như sau:

  • Lần 1: Vào ngày 06/5 đặt cọc số tiền 50.000.000 đồng;
  • Lần 2: Ngày 13/5 thanh toán số tiền 350.000.000 đồng;
  • Lần 3: Ngày 06/7 thanh toán số tiền còn lại.

Thực hiện hợp đồng đặt cọc trên, nguyên đơn đã giao cho bị đơn số tiền đặt cọc vào ngày 06/5 là 50.000.000 đồng; ngày 13/5 nguyên đơn giao cho bị đơn số tiền 350.000.000 đồng, tuy nhiên nguyên đơn chỉ giao cho bị đơn số tiền 50.000.000đồng. Các bên xác nhận bị đơn đã nhận của nguyên đơn số tiền là 100.000.000đồng.

[2.2] Như vậy, lời khai của các bên là thống nhất, phù hợp với nhau, phù hợp tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nên đây là các chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

5

[2.3] Khi tham gia ký kết hợp đồng đặt cọc các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng đặt cọc giữa các bên giao kết xuất phát từ ý chí tự nguyện của các bên; mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật; không trái đạo đức xã hội và có hình thức phù hợp với quy định tại Điều 328, Điều 117 của Bộ luật dân sự, nên Hợp đồng đặt cọc ngày 06/5/2022 có hiệu lực pháp luật.

[2.4] Xét yêu cầu huỷ hợp đồng đặt cọc, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Lần 01 các bên đã thực hiện đúng cam kết, nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng); bị đơn đã nhận đủ số tiền trên. Sau đó nguyên đơn biết được ngày 25/3/2022 bị đơn đã nhận cọc chuyển quyền sử dụng đất đối với anh Nguyễn Đức T2 - sinh năm: 1989, trú tại tổ F N, N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và chưa hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc đối với anh Nguyễn Đức T2. Bà C đã liên hệ với ông B để đề nghị giải quyết, ông B năn nỉ bà C đưa thêm cho ông B một số tiền để ông B trả nợ và lấy sổ đỏ về nên bà C đã đưa tiếp cho ông B số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Tổng cộng hai lần bà C đưa cho ông B số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Sau đó nhiều lần liên lạc với anh B để tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng ông B không đồng ý.

Như vậy, nguyên đơn đã tạo điều kiện của bị đơn cùng như hỗ trợ bị đơn giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến thửa đất số 179, tờ bản đồ số 49 (bản đồ địa chính thị trấn V), vị trí thửa đất tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, sau đó bị đơn cố tình không thực hiện theo đúng như thỏa thuận ban đầu. Nguyên đơn nhận thấy quyền lợi của mình không được đảm bảo nên đã không thanh toán những lần tiền còn lại theo thời gian đã thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc. Nay nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc là có căn cứ và phù hợp nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn vì cho rằng tại lần giao tiền thứ 2 thì nguyên đơn không giao đủ số tiền 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng) như thỏa thuận ban đầu mà chỉ đưa số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và hẹn mấy ngày nữa sẽ đưa tiếp nhưng đến hết thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc vẫn không đưa. Như vậy mặc dù các bên thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc là lần 02 (ngày 13/5) bà C phải giao cho anh B số tiền 350.000.000đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng), nhưng thực tế bà C chỉ giao cho anh B số tiền 50.000.000 đồng, anh B đồng ý nhận số tiền trên, như vậy thỏa thuận này là thỏa thuận ngoài hợp đồng đặt cọc nhưng thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của các bên nên được ghi nhận. Do vậy ông B không thể cho rằng nguyên đơn không thực hiện theo đúng hợp đồng đặt cọc nên đã vi phạm.

Ngoài ra, trước khi các bên ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 06/5/2022 thì anh B đã nhận cọc của anh Nguyễn Đức T2 để đảm bảo cho việc chuyển nhượng thửa đất số 179, tờ bản đồ số 49 (bản đồ địa chính thị trấn V), vị trí thửa đất tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa và chưa hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc đối với anh Nguyễn Đức T2 thì anh B lại nhận cọc của bà Nguyễn Thị

6

C là đã vi phạm hợp hồng theo quy định tại Điều 423 của Bộ luật Dân sự. Do vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

Từ những cơ sở trên có thể khẳng định bị đơn là bên có lỗi, vi phạm hợp đồng, nên nguyên đơn yêu cầu huỷ hợp đồng buộc bị đơn trả lại số tiền cọc bị đơn đã nhận là có căn cứ, phù hợp với hợp đồng các bên đã ký kết, phù hợp với quy định tại Điều 423, 424 Bộ luật dân sự 2015. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

- Về yêu cầu phạt cọc: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Các vấn đề khác:

[3.1] Về yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Trong quá trình giải quyết vụ án bà C yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” được quy định tại khoản 11 Điều 114 và 121 của Bộ luật tố tụng dân sự đối với tài sản là thửa đất 179, tờ bản đồ số 49, diện tích 110,2 m², vị trí thửa đất tại tổ dân phố số A thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa đã được cấp cho anh Nguyễn Văn B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 105598, số vào sổ cấp GCN: CS01422, cấp ngày 02/02/2021. Tuy nhiên ngày 18/6/2024 bà C đã có đơn xin rút yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh đã ban hành Quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2024/QĐ- BPKCTT ngày 18/6/2024.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Ngọc P2 đề nghị Tòa hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” giữa bà C và ông B vì việc ông P2 chuyển nhương đất từ ông B là hợp pháp, ông P2 không biết gì về việc ông B nhận tiền đặt cọc của người khác nhưng không thực hiện. Tuy nhiên sau đó ông P và ông P2 đã thỏa thuận về việc ông P2 hỗ trợ cho bà C số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng). Ông P tự nguyện rút đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, ông P2 không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh cho rằng hành vi của bị đơn anh Nguyễn Văn B có dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh đã ban hành Công văn số: ngày 28 tháng 12 năm 2023. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh nhận được công văn trả lời của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V cho rằng hành vi trên của bị đơn anh Nguyễn Văn B không có dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C được chấp nhận nên bị đơn anh Nguyễn Văn B phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

7

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 117; Điều 328; Điều 423, 424, 428 của Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.
    1. Tuyên Hủy hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ký ngày 06/5/2022 giữa bà Nguyễn Thị C với anh Nguyễn Văn B.
    2. Buộc anh Nguyễn Văn B hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị C số tiền là 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng).

Qui định: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án một khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

  1. Về án phí:
    • + Anh Nguyễn Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000đ (năm triệu đồng).
    • + Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị C số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0001911 ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Nguyên đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh
  • (Sau khi án có hiệu lực pháp luật);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Hòa Thanh

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/DSST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 26/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger