|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/DS-ST Ngày: 06/6/2024 V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Văn Tuất
Ông Nguyễn Xuân Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 06/2021/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2021 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Võ Thanh T, sinh năm: 1969; Nơi cư trú: Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm: 1985; Nơi cư trú: Số A N, tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị đơn: Ông Võ Phi C, sinh năm: 1964; địa chỉ: Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền, lợi ích của bị đơn: Luật sư Trần Văn S – Văn phòng L1 – Đoàn luật sư tỉnh K. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1936; địa chỉ: Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Đã chết ngày 13/7/2022.
Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng: Ông Võ Thanh P; địa chỉ: Đ, thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Các ông, bà: Võ Thị Thúy L, Võ Thụy H, Võ Thị T2, Võ Thanh T, Võ Thị Thúy P1, Võ Phi C, đều cư trú tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
2. Ông Võ Thanh P – sinh năm 1964; địa chỉ: Đ, thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
3. Bà Võ Thị Thúy L – sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
4 Ông Võ Thụy H – sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
5. Bà Võ Thị T2 – sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
6. Bà Võ Thị Thúy P1 – sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
7. Bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai S1; địa chỉ: Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
8. Ủy ban nhân dân thành phố C; địa chỉ: số B P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
9. Nguyễn Thị Thu H2; địa chỉ: C N, phường C, Tp ., tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Ông Võ Q, sinh năm: 1936 có vợ là bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1936. Ông Q và bà K có 08 người con đẻ (không có con riêng, con nuôi), gồm:
- A, sinh năm: 1959
- Võ Thanh Phụng, sinh năm: 1964
- Võ Thúy Hoàng, sinh năm: 1966
- Võ Thị Tiên, sinh năm: 1967
- Võ Thanh T, sinh năm: 1969
- Võ Thị Thúy Phượng, sinh năm: 1971
- Võ Phi C, sinh năm: 1975
- Võ Thị H3, sinh năm: 1979, hiện không rõ địa chỉ;
- Võ Thanh P2, sinh năm 1976, đã chết ngày 12/01/1991, không có vợ, con.
- Võ P3, sinh năm 1973, chết năm 2010, không có vợ, con.
Ông Q và bà K có tạo lập tài sản gồm có:
- Lô đất thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Q, bà Nguyễn Thị K vào ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00011QSDD/X-CPĐ- 1XCK.
- Lô đất thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 16, diện tích 1152,0m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m², đất trồng cây lâu năm 952m² tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Võ Q, bà Nguyễn Thị K vào ngày 02/6/2015, số phát hànhCA337104, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS-04194. Trên lô đất này có căn nhà cấp 4 diện tích khoảng 100m do ông Võ Q và bà Nguyễn Thị K xây cất. Trong quá trình sử dụng, hộ ông Võ Quốc bà Nguyễn Thị K1 đã tặng cho nguyên đơn một phần diện tích đất ngang 5m x dài 40m = 200m² từ năm 2005, không giấy tờ. Nguyên đơn đã xây dựng nhà ở trên phân diện tích đất được tặng cho này.
Ông Võ Quốc c vào ngày 01/3/2015 và đã được UBND xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng tử số 23 ngày 10/3/2015. Ông Võ Quốc c không để lại di chúc.
Hiện nay nguyên đơn và các thành viên của hộ gia đình đồng thời là người thừa kế theo pháp luật của ông Võ Q không thỏa thuận được nên đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết chia tài sản chung và di sản thừa kế là toàn bộ nhà và đất nói trên theo đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra nguyên đơn còn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN: CH01130 ngày 30/6/2014, cấp cho bà Nguyễn Thị H1 ông Mai S1 thửa đất số 30, tờ bản đồ 4, diện tích 14855,0m², địa chỉ thửa đất: thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa vì cấp chồng lấn vào thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị K1 đã chết ngày 13/7/2022.
Sau khi có kết quả đo vẽ, xác định lại hiện trạng các thửa đất tranh chấp nguyên đơn xác định yêu cầu như sau:
- Lô đất thuộc thửa đất sô 80, tờ bản đồ số 16, diện tích 1152,0m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m, đất trồng cây lâu năm 952m² tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa hiện trạng ranh giới được chia làm 2 phần:
- Phần diện tích B (214.4 m²) là phần đất nguyên đơn đã được tặng cho từ năm 2005 và xây cất nhà trên đất sử dụng ổn định như đã trình bày. Nay nguyên đơn yêu cầu được giao phần đất này, đồng thời trên đất có căn nhà cấp 4 diện tích xây dựng là 60m² nên nguyên đơn yêu cầu được giao 60m² đất ở nông thôn cho phù hợp với khuôn viên hiện trạng đã quản lý sử dụng.
- Phần đất diện tích A (937.5m²) là phần đất còn lại mà cha mẹ nguyên đơn quản lý, sử dụng và cất nhà cấp 4 có diện tích xây dựng là 91.1m², sau đó là các bà Võ Thị Thúy L, Võ Thị T2 tiếp tục quản lý, sử dụng. Nay nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của cha mẹ, giao phần nhà, đất này cho ông Võ Phi C, bà Võ Thị Thúy L và bà Võ Thị T2. Trong đó có 140 m² đất ở nông thôn còn lại.
- Lô đất thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Q, bà Nguyễn Thị K2 vào ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00011QSDD/X-CPĐ- 1XCK: do diện tích và hình thể lô đất không có tọa độ trên bản đồ, tuy nhiên, cha mẹ nguyên đơn khai hoang và sau đó ông Võ Phi C đã quản lý, sử dụng từ đó đến nay. Sau khi kiểm tra hiện trạng thực tế quản lý, sử dụng thì lô đất này có diện tích là 38.185,7m². Đối với lô đất này nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo diện tích hiện trạng thực tế đo đạc, cụ thể như sau:
- Trong diện tích hiện trạng có phẩn diện tích E (5.620m²) cấp nhầm sang Giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sô câp GCN: CH01130 ngày 30/6/2014 cho bà Nguyễn Thị H1, ông Mai S1 đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ 4. Nên nguyên đơn yêu cầu điều chỉnh lại ranh giới thửa 30 tờ bản đồ 4 theo đúng hiện trạng sử dụng, trả lại phần diện tích E (5.620m²) cho nguyên đơn để giải quyết chia thừa kế và tài sản chung. Nếu các anh em khác đồng ý thì nguyên đơn đồng ý giao toàn bộ hiện vật có diện tích là 38.185,7m² cho ông Võ Phi C.
Về nghĩa vụ thanh toán của những người nhận hiện vật: Ông C có trách nhiệm thanh toán cho các anh chị em như sau:
- Thanh toán cho nguyên đơn, ông Võ Thụy H, Võ Thị Thúy P1 và Võ Thị H4 mỗi người 100.000.000 đồng. Do bà H4 hiện nay không rõ tung tích nên tạm giao cho ông C giữ 100.000.000 đồng của bà H4, nếu sau bà H4 có yêu cầu thì ông C có trách nhiệm giao lại phần tiền này cho bà H4 hoặc giải quyết bằng vụ án khác khi bà H4 có đơn khởi kiện.
- Thanh toán cho ông Võ Thanh P 150.000.000 đồng.
Các ông, bà nhận hiện vật còn lại gồm nguyên đơn, bà Võ Thị T2 và Võ Thị L không có trách nhiệm thanh toán.
Về chi phí tố tụng của vụ án: Phần chi phí tố tụng nguyên đơn đã tạm ứng là 12.568.000 đồng thì đề nghị chia đều cho 05 anh chị em gồm nguyên đơn, ông Võ Thanh P, Võ Thụy H, Võ Thị Thúy P1, Võ Thanh C1. Còn phần chi phí tố tụng mà bà H2 tạm ứng là 12.200.000 đồng để giải quyết yêu cầu của bà H2 về thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thì bà H2 chịu.
Đối với các tài sản có trên đất nguyên đơn không yêu cầu giải quyết. Nguyên đơn xin rút lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sô câp GCN: CH01130 ngày 30/6/2014, cấp cho bà Nguyên Thị H5 ông Mai S1 thửa đất số 30, tờ bản đồ 4, diện tích 14855,0m², địa chỉ thửa đất: thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa
Về án phí:
- Đối với việc chia tài sản: Nguyên đơn đồng ý tính theo giá trị phần tài sản được chia, trừ trường hợp được miễn án phí theo quy định.
- Đối với việc điều chỉnh ranh giới thửa đất và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: bà H2 chịu án phí theo quy định.
Tại phiên toà, nguyên đơn trình bày: phương án hoà giải nêu trên được các anh chị em tự thoả thuận tại buổi hoà giải ngày 17/5/2024, tuy nhiên, chỉ có ông Võ Thanh P không đồng ý nên nay nguyên đơn đề nghị hội đồng xét xử ghi nhận các thoả thuận trên và giải quyết quyền lợi cho ông P theo quy định. Còn về việc bà H2 yêu cầu điều chỉnh ranh giới thửa đất nhận chuyển nhượng là phần phần đất C diện tích 18.182,6m² và D (4.422m²) theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng tại VPCC T số công chứng 10387, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD và hiện trạng nhận chuyển nhượng trên thực tế thì nguyên đơn cũng thống nhất.
Bị đơn trình bày: Ngày 28/02/2011, dưới sự chứng kiến của luật sư Trần T3, cha mẹ là Võ Q và Nguyễn Thị K1 đã làm di chúc với nội dung:
- Bị đơn được thừa kế lô đất thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m2, đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, Thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Võ Thanh Q1 và bà Nguyễn Thị K1 ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00011QSDĐ/X-CPĐ-TXCR. Đất này hiện nay bị đơn đang quản lý, sử dụng: trồng xoài và keo.
- Lô đất thuộc thửa số 80 (trước đây là thửa 180 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành 1331209, vào sổ số 01079 QSDĐ/CP-CR do UBND huyện C nay là Thành phố C cấp ngày 10/6/1997) Tờ bản đồ số 6, diện tích 1152m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m², đất trồng cây lâu năm 952m² tọa lạc tại S - xã C - Thành phố C - tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Hộ ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1 ngày 02/6/2015, số phát hành CA337104, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS-04194. Trên lô đất này có căn nhà cấp 4 có diện tích khoảng 100m² do ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1 bỏ tiền ra xây cất. Trong phần đất này, khi làm di chúc cha mẹ đã tặng cho 200m² cho ông Võ Thanh T xây nhà để ở cho đến nay. Còn phần đất còn lại do bà Nguyễn Thị K1, bà Võ Thị Thúy L, Võ Thị T2 và bị đơn đang cùng quản lý, sử dụng.
Theo nội dung di chúc này, còn 1 mãnh ruộng 1600m² cha mẹ đã bán trước khi chết nên bị đơn không yêu cầu giải quyết.
Theo nguyện vọng của cha mẹ nêu trên nên bị đơn cũng đồng ý với phương án hoà giải đã thoả thuận ngày 17/5/2024 như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên chỉ có ông P không đồng ý nên bị đơn đề nghị Toà án phân chia tài sản theo quy định cho ông P và ghi nhận sự thoả thuận của bị đơn và các ông bà: Võ Thị Thúy L, Võ Thụy H, Võ Thị T2, Võ Thanh T, Võ Thị Thúy P1, Võ Thanh C1. Còn về việc bà H2 yêu cầu điều chỉnh ranh giới thửa đất nhận chuyển nhượng là phần phần đất C diện tích 18.182,6m² và D (4.422m²) theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng tại VPCC T số công chứng 10387, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD và hiện trạng nhận chuyển nhượng trên thực tế thì bị đơn cũng thống nhất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị K1 trình bày:
Bà K1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Võ Q1 sinh năm 1936 có vợ là Nguyễn Thị K1 sinh năm 1936. Ông Q1 và bà K1 có 07 người con đẻ (không có con riêng, con nuôi) gồm có:
- Võ Thị Thúy L – sinh năm 1959
- Võ Thanh P – sinh năm 1964
- Võ Thụy H – sinh năm 1966
- Võ Thị T2 – sinh năm 1967
- Võ Thanh T – sinh năm 1969
- Võ Thị Thúy P1 – sinh năm 1971
- Võ Thanh C1 – sinh năm 1975
Tài sản tranh chấp bao gồm:
- Lô đất thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, Thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Võ Thanh Q1 và bà Nguyễn Thị K1 ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00011QSDĐ/X-CPĐ-TXCR. Đất này ông Võ Phi C đang quản lý, sử dụng.
- Lô đất thuộc thửa số 80. Tờ bản đồ số 6, diện tích 1152m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m², đất trồng cây lâu năm 952m² tọa lạc tại S - xã C - Thành phố C - tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1 ngày 02/6/2015, số phát hành CA337104, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS-04194. Trên lô đất này có căn nhà cấp 4 có diện tích 400m² do ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1 bỏ tiền ra xây cất. Trong phần đất này, cả hộ (ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1) đã tặng cho 200m² cho ông Võ Thanh T xây nhà để ở cho đến nay. Còn phần đất còn lại do bà K1 và bà Võ Thị Thúy L, Võ Thị T2 đang cùng quản lý, sử dụng.
Sau khi ông Võ Quốc c ngày 01/3/2015, không để lại di chúc, các đồng thừa kế có thỏa thuận chia các tài sản này nhưng không đạt sự thống nhất. Bà K1 yêu cầu chia 02 lô đất trên cho 7 người con (trong đó ông P có phần nhiều hơn gấp đôi người khác vì P có nhiều công sức đóng góp trong quá trình canh tác, sử dụng), bao gồm cả phần đất 200m² đã cho ông T. Còn bà K1 thì không nhận tài sản. Bà K1 yêu yêu cầu chia toàn bộ tài sản bằng hiện vật như sau:
- Lô đất thuộc thửa số 80, 1152m² chia như sau:
- Võ Thanh T, Võ Phi C: mỗi người 200m², ông T hiện nay đang quản lý phần tài sản của mình.
- Võ Thị Thúy L và Võ Thị T2: nhà và đất 400m².
- Phần còn lại 352m² chia đều cho Võ Thanh P, Võ Thụy H và Võ Thị Thúy P1.
- Đất rẫy thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 04, chia là 8 phần cho 7 người con, trong đó ông P được 2 phần.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông, bà Võ Thị Thúy L, Võ Thụy H, Võ Thị T2, Võ Thị Thúy P1 trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Kiều . Tuy nhiên, về phương án hoà giải, các ông bà Võ Thị Thúy L, Võ Thụy H, Võ Thị T2, Võ Thị Thúy P1 thống nhất với phương án hoà giải mà nguyên đơn đề ra và được thoả thuận tại buổi hoà giải ngày 17/5/2024. Tuy nhiên chỉ có ông P không đồng ý nên các ông, bà đề nghị Toà án phân chia theo quy định cho ông P và ghi nhận sự thoả thuận của các ông, bà và các ông bà: Võ Thanh T, Võ Thanh C1. Còn về việc bà H2 yêu cầu điều chỉnh ranh giới thửa đất nhận chuyển nhượng là phần phần đất C diện tích 18.182,6m² và D (4.422m²) theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng tại VPCC T số công chứng 10387, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD và hiện trạng nhận chuyển nhượng trên thực tế thì các ông, bà cũng thống nhất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Thanh P trình bày:
Ông P thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị K1 và đề nghị chia tài sản theo nguyện vọng của bà K1. Ông P không đồng ý nhận số tiền 150.000.000 đồng mà yêu cầu chia cho ông theo quy định, trong đó có hiện vật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H2 trình bày và có yêu cầu độc lập như sau:
22/12/2021, bà H2 có nhận chuyển nhượng lô đất tại thửa 30 - Tờ bản đồ sô 04 tại thôn S, xã C, thành phô C, tỉnh Khánh Hòa có diện tích 14.855m² đất rừng sản xuất theo hợp đồng công chứng tại VPCC Trường A1, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD, lô đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN477757, số cấp GCN: CH01130 ngày 30/6/2014. Sau đó, bà H2 được biết một phần đất trong sổ đã bị cấp chồng lấn thửa số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m, đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, Thành phô C, tỉnh Khánh Hòa theo Giây chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Võ Thanh Q1 và bà Nguyên Thị K2 ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào số cấp Giấy chứng nhận 00011QSDĐ/X-CPĐ-TXCR hiện nay do ông Võ Phi C đang quản lý.
Giữa lô đất của bà nhận chuyển nhượng là lô ông C đang quản lý có ranh giới rõ ràng, không có tranh chấp. Do vậy, nay bà không đồng ý yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn, nhưng bà đề nghị kiểm tra lại hiện trạng sử dụng đất, nêu trong trường hợp có sự nhầm lẫn thì điều chỉnh lại đúng diện tích thực tế của thửa 30 mà bà đang sử dụng và thửa 24 mà ông C quản lý, sử dụng nêu trên.
Bà H2 đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn điều chỉnh hiện trạng thửa đất 30 - tờ bản đồ 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN: CH01130 ngày 30/6/2014, cấp cho bà Nguyễn Thị H1 ông Mai S1 thửa đất số 30, tờ bản đồ 4, diện tích 14855,0m² thành lô đất có ký hiệu C diện tích 8.182,6m², đồng thời bà H2 yêu cầu giao phần đất này cho bà theo hợp đồng công chứng tại VPCC T số công chứng 10387, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD. Đồng thời trong hiện trạng bà H2 có quản lý, sử dụng và nhận chuyển nhượng có phần diện tích D (4.422m²) nằm ngoài giấy chứng nhận, tuy nhiên có cùng nguồn gốc theo thửa đất 30, tờ bản đồ 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN: CH01130 ngày 30/6/2014, cấp cho bà Nguyễn Thị H1 ông Mai S1 đã chuyển nhượng cho bà nên bà H2 yêu cầu giao luôn phần đất này cho bà. Bà H2 đồng ý với phương án hoà giải ngày 17/5/2024 như nguyên đơn đã trình bày.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai S1 và bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 30 – Tờ bản đồ số 04 tại Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa là do vợ chồng ông, bà khai hoang từ năm 1988, đã đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/6/2014 và quản lý sử dụng sau đó chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Thu H2 theo hợp đồng công chứng tại V số công chứng 10387, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/12/2021. Giữa lô đất của ông, bà và lô đất ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K1 có hiện trạng rõ ràng. Ông S1, bà H1 đã giao đất cho bà H2 theo hiện trạng hiện nay mà bà H2 quản lý. Nếu trong trường hợp có sai sót, nhầm lẫn trong việc cấp giấy chứng nhận thì ông, bà đề nghị điều chỉnh lại cho đúng hiện trạng thực tế cho bà H2. Ngoài ra ông, bà không tranh chấp gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thành phố C trình bày:
Về hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m2, loại đất rừng sản xuất tại thôn S, xã C, thành phố C: Thửa đất 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m2 tọa lạc tại thôn S, xã C đã được UBND thị xã C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00011 QSDĐ/X.CPĐ-TXCR ngày 22/9/2003 cho ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị Kiều . Qua kiểm tra Sổ địa chính xã C thì thửa đất trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1 là đúng. Tuy nhiên, hiện nay cơ quan đăng ký đất đai (Chi nhánh Văn phòng Đ) không có hồ sơ lưu trữ của thửa đất này.
Đối với thửa đất số 80, tờ bản đồ số 16, tại xã C: Hộ ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1, được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành I 331209, số vào số 01079 QSDĐ/CP-CR ngày 10/6/1997 đối với thửa đất số 180, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.130m2, mục đích sử dụng: 200m2 đất thổ cư và 930m2 đất vườn, tọa lạc tại xã C, thành phố C.
Nguồn gốc sử dụng đất thể hiện tại hồ sơ là do nhận sang nhượng đất của ông Ngô H6 ngày 21/3/1990, được Hội đồng xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã C xác nhận ngày 20/3/1997.
Năm 2014, hộ ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1 đăng ký cấp đổi Giấy chứng nhận đối với thửa đất trên và được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CA 337104 ngày 02/6/2015, thông tin thửa đất mới là thửa số 80, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.152m2, mục đích sử dụng: 200m2 đất ở tại nông thôn và 952m2 đất trồng cây lâu năm.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01130 cấp cho bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai S1 ngày 30/6/2014: Thửa đất số 30, tờ bản đồ số 04, diện tích 14.855m2, mục đích sử dụng: Đất rừng sản xuất, tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, được UBND thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BN 477757, số vào sổ CH01130 ngày 30/6/2014 cho ông Mai S1 và bà Nguyễn Thị H1.
Ý kiến của UBND thành phố C về việc giải quyết tranh chấp đất đai có liên quan đến các thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận:
Do các thửa đất hiện đang tranh chấp đã được cấp GCNQSD đất, vì vậy căn cứ quy định tại Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, UBND thành phố C đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xem xét giải quyết việc yêu cầu của người khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật.
Về việc tham gia các buổi làm việc liên quan đến vụ án tại Tòa án:
Với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, UBND thành phố C có ý kiến và đề nghị như sau: Hiện nay, Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND thành phố C bận công tác nên không tham gia vụ án được. Đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi đối thoại, hòa giải, làm việc và phiên xét xử của Tòa án.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ việc để xét xử sơ thẩm đến trước thời điểm nghị án. Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ việc. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 623, 649, 650, 651, 660 BLDS năm 2015 để:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Thanh T về việc chia di sản thừa kế do ông Võ Q1 (chết năm 2015) và bà Nguyễn Thị K1 (chết năm 2022) gồm các tài sản sau:
- Thửa đất số 80, tờ bản đồ số 16, diện tích 1152,0m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m, đất trồng cây lâu năm 952m² tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K1 vào ngày 02/6/2015 gồm tài sản trên đất và thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa được UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K1 vào ngày 22/9/2003 với diện tích thực tế là 38.185,7m². Những người được hưởng thừa kế là các con của ông Q1, bà K1 là ông Võ Thanh P, bà Võ Thị Thúy L, ông Võ Thụy H, bà Võ Thị T2, bà Võ Thị Thúy P1, ông Võ Thanh T, ông Võ Phi C và bà Võ Thị Thu H7. Tuy nhiên, hiện nay bà H7 chưa xác định được địa chỉ nên tạm giao phần được chia của bà H7 cho ông Võ Phi C, ông C có trách nhiệm giao lại phần được chia cho bà H7 khi bà H7 có yêu cầu.
Về chia hiện vật:
-Đối với thửa đất số 80, tờ bản đồ số 16, diện tích 1152,0m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m2, đất trồng cây lâu năm 952m² tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa được chia làm 2 phần:
- Giao cho ông Võ Thanh T phần diện tích B (214.4 m²) trong đó có 60m² đất ở nông thôn. Trên đất có nhà cấp 4 diện tích xây dựng 60m² và hai mái che.
- Giao cho ông Võ Phi C, bà Võ Thị Thúy L, Võ Thị T2 (mỗi người có 1/3 phần sở hữu trong phần đất diện tích A (937.5m²) trên đất có cấp 4 có diện tích xây dựng là 91.1m², 01 chồng heo, 01 chuồng bò và 01 nhà vệ sinh, trong đó có 140 m² đất ở nông thôn còn lại.
-Đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K3 vào ngày 22/9/2003, theo hiện trạng thực tế quản lý, sử dụng thì lô đất này có diện tích là 38.185,7m² giao hiện vật theo 2 phần như sau:
- Giao cho ông Võ Phi C quản lý, sử dụng lô đất ký hiệu A có diện tích 24.786,6m² nên giao cho ông Võ Phi C.
- Giao cho ông Võ Thanh P quản lý, sử dụng gồm các phần B có tổng diện tích là: 13.393,8 m².
Về nghĩa vụ thanh toán:
- Ông Võ Phi C có nghĩa vụ thanh toán như sau: Thanh toán cho ông Võ Thanh T, ông Võ Thụy H, Võ Thị Thúy P1 và Võ Thị H7 mỗi người 100.000.000 đồng. Do bà H7 hiện nay không rõ tung tích nên tạm giao cho ông C giữ 100.000.000 đồng của bà H7, nếu sau bà H7 có yêu cầu thì ông C có trách nhiệm giao lại phần tiền này cho bà H7 hoặc giải quyết bằng vụ án khác khi bà H7 có đơn khởi kiện.
- Ông Võ Phi C, bà Võ Thị T2 và bà Võ Thị Thúy L mỗi người phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Võ Thanh P số tiền 79.513.302 đồng
Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H2 về việc điều chỉnh hiện trạng thửa đất và công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 30 - Tờ bản đồ số 04 giữa các bên hợp đồng công chứng tại VPCC T số công chứng 10387, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD như sau: Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H2 thửa đất có diện tích 13.656,5 gồm phần đất có ký hiệu C (9.234,5m²) và D (4.422 m²). Bà H2 có quyền, nghĩa vụ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN477757, số cấp GCN: CH01130 do UBND Thành phố C cấp ngày 30/6/2014 đối với diện tích đất được giao.
Về án phí, chi phí tố tụng: đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản thừa kế, chia tài sản chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H2 yêu cầu giao phần đất nhận chuyển nhượng hiện trạng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng theo quy định tại khoản 3 và 5 Điều 26, khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.
[1.2] Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt như ông Mai S1, bà Nguyễn Thị H1 và UBND Thành phố C. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ.
[1.3] Theo trình bày của các đương sự và kết quả xác minh cho thấy, bà Võ Thị Thu H7 (hoặc Võ Thị H7) - sinh năm 1979 thuộc diện thừa kế tuy nhiên nguyên đơn và các đương sự khác đều không cung cấp được địa chỉ và Tòa án đã tiến hành các biện pháp để thu thập, xác minh địa chỉ theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của bà H7 nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao “Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án”.
[1.4] Nguyên đơn rút yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sô vào sô câp GCN: CH01130 ngày 30/6/2014, cấp cho bà Nguyễn Thị H1 ông Mai S1 thửa đất số 30, tờ bản đồ 4, diện tích 14855,0m², địa chỉ thửa đất: thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử và không xem xét yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế của ông Võ Q1 và chia tài sản chung của bà Nguyễn Thị K1
[2.1] Về diện, hàng thừa kế: Trên cơ sở xác minh, các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của các đương sự, ông Võ Q1 có vợ là bà Nguyễn Thị K1 và 10 người con đẻ như sau:
- Võ Thị Thúy Loan, sinh năm: 1959
- Võ Thanh Phụng, sinh năm: 1964
- Võ Thúy Hoàng, sinh năm: 1966
- Võ Thị Tiên, sinh năm: 1967
- Võ Thanh T, sinh năm: 1969
- Võ Thị Thúy Phượng, sinh năm: 1971
- Võ Phi C, sinh năm: 1975
- Võ Thị H3, sinh năm: 1979, hiện không rõ địa chỉ;
- Võ Thanh P2, sinh năm 1976, đã chết ngày 12/01/1991, không có vợ, con.
- Võ P3, sinh năm 1973, chết năm 2010, không có vợ, con.
Ngoài ra không có người con nuôi nào khác. Bà Nguyễn Thị K1 chết ngày 13/7/2022, trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án trước đó, bà K1 không yêu cầu chia thừa kế mà thống nhất gộp luôn phần tài sản riêng và phần thừa kế được hưởng của bà trong khối tài sản chung với ông Võ Q1 để chia thừa kế cho các con theo quy định. Những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà K1 cũng không bổ sung ý kiến nào khác. Đồng thời, những người thuộc hộ gia đình ông Q1, bà K1 tuy cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tư cách hộ gia đình nhưng đều xác định đây là tài sản chung của cha, mẹ. Như vậy, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Võ Q1 hiện nay bao gồm 08 người: Ông Võ Thanh P; bà Võ Thị Thúy L, ông Võ Thụy H, bà Võ Thị T2, ông Võ Thanh T, bà Võ Thị Thúy P1, ông Võ Phi C và bà Võ Thị Thu H7 (hoặc Võ Thị H7).
[2.2] Về tài sản mà các đương sự yêu cầu chia bao gồm:
[2.2.1] Lô đất thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K1 vào ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât 00011QSDĐ/X-CPĐ- 1XCK. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, lô đất có hiện trạng là 38.185,7m² diện tích giảm so với diện tích cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có một phần đất 5.620,5m² bị cấp chồng lấn vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN: CH01130 ngày 30/6/2014, cấp cho bà Nguyễn Thị H5 ông Mai S1 thửa đất số 30, tờ bản đồ 4, diện tích 14855,0m². Hội đồng xét xử xét thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cập GCN: CH01130 ngày 30/6/2014 cho ông Mai S1 và bà Nguyễn Thị H1 được cấp sau Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K1 vào ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât 00011QSDĐ/X-CPĐ- 1XCK. Cơ sở cấp giấy chứng nhận cho ông Mai S1, bà Nguyễn Thị H1 (thửa 30) là căn cứ vào bản đồ Vlap, còn bản đồ cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K1 (thửa 24) lại là bản đồ giấy, không có hệ toạ độ. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả xác minh tại UBND xã C cho thấy, hiện trạng thực tế các bên quản lý, sử dụng từ trước khi được cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay được các bên tạo lập ranh giới rõ ràng, không có tranh chấp. Chính vì vậy nay các đương sự đều yêu cầu điều chỉnh lại diện tích, toạ độ thửa đất 24 và 30 – Tờ bản đồ số 04 theo đúng hiện trạng sử dụng. Từ đó có thể xác định, có sự nhầm lần trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 30 – Tờ bản đồ số 04. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận, xác định lại hiện trạng thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04 nay có diện tích 38.185,7m² thuộc các thửa 30, 31, 32, 56 và 290 – Tờ bản đồ số 4 gồm các phần đất có ký hiệu A, B và E theo Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ1 bản đồ và Tư vấn bất động sản Cam Ranh thiết lập. Giá trị thửa đất theo kết quả định giá là: 38.185,7m² x 20.000 đồng/m² = 763.714.000 đồng. Hiện nay trên đất có một số tài sản gồm cây trồng, vật kiến trúc do ông Võ Phi C tạo lập nhưng các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xét.
- Lô đất thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 16, diện tích 1152,0m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m, đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K3 vào ngày 02/6/2015, số phát hành CA337104, sô vào sô cấp giấy chứng nhận: CS-04194. Hiện trạng hiện nay của thửa đất này được chia làm hai phần:
- Phần diện tích B (214.4 m²) là phần đất đã được tặng cho từ năm 2005 cho ông Võ Thanh T. Trên đất có các tài sản gồm nhà cấp 4 diện tích 60m² và hai mái che do ông T tạo lập từ năm 2005 và đang quản lý, sử dụng.
- Phần đất diện tích A (937.5m² x 2.000.000 đồng/m² = 1.875.000.000 đồng), trên đất có các tài sản do ông Q1, bà K1 tạo lập gồm: nhà cấp 4 có diện tích xây dựng là 91.1m² x 2.674.600 đồng/m² x 60% = 146.193.636 đồng; các tài sản, cây trồng khác các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét. Tổng giá trị tài sản: 1.875.000.000 đồng + 146.193.636 đồng = 2.021.193.636 đồng. Phần tài sản này do bà L và bà T2 đang quản lý sử dụng sau khi cha mẹ mất.
Trong đó, Hội đồng xét xử xét thấy phần diện tích A đã được ông Q1, bà K1 và các con đồng thuận tặng cho ông T từ năm 2005 và ông T đã tạo lập tài sản, ranh giới để quản lý, sử dụng từ đó đến nay nên đối với phần đất và tài sản trên đất này không xét để chia thừa kế mà ghi nhận sự thoả thuận, giao cho ông T phần đất này. Trong đó nên giao 60m² đất thổ cư là phù hợp với hiện trạng sử dụng.
Tổng giá trị phần tài sản các đương sự yêu cầu chia: 763.714.000 đồng + 2.021.193.636 đồng = 2.784.907.636 đồng.
[2.3] Về việc chia thừa kế:
[2.3.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Phi C có cung cấp 01 tờ di chúc đứng tên ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K1 đề ngày 28/02/2011, dưới sự chứng kiến của luật sư Trần T3 với nội dung:
- Ông C được thừa kế lô đất thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, Thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Võ Thanh Q1 và bà Nguyễn Thị K1 ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00011QSDĐ/X-CPĐ-TXCR.
- Lô đất thuộc thửa số 80 (trước đây là thửa 180 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành 1331209, vào sổ số 01079 QSDĐ/CP-CR do UBND huyện C nay là Thành phố C cấp ngày 10/6/1997) Tờ bản đồ số 6, diện tích 1152m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m², đất trồng cây lâu năm 952m² tọa lạc tại S - xã C - Thành phố C - tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Hộ ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1 ngày 02/6/2015, số phát hành CA337104, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS-04194. Trên lô đất này có căn nhà cấp 4 có diện tích khoảng 100m² do ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1 bỏ tiền ra xây cất. Ông Q1, bà K1 đã tặng cho 200m² cho ông Võ Thanh T xây nhà để ở cho đến nay. Còn phần đất còn lại giao cho ông C quản lý, sử dụng.
Xét di chúc không có đủ 02 người làm chứng theo quy định tại Điều 654 và 656 của Bộ luật dân sự 2005. Nội dung di chúc cũng ghi rõ chỉ phát sinh hiệu lực khi cả hai người (ông Q1, bà K1) đã chết. Tuy nhiên tại thời điểm phát sinh tranh chấp thì bà K1 vẫn còn sống. Chính vị vậy, di chúc này không phát sinh hiệu lực.
[2.3.2] Các tài sản nêu trên được chia thừa kế theo quy định pháp luật cho 09 người, tuy nhiên bà K1 không yêu cầu chia nên chia lại cho 8 người con. Trong đó, các đương sự đều thống nhất ông Võ Thanh P có nhiều công sức đóng góp trong việc tạo lập tài sản chung nên được chia thêm 1 kỷ phần, đồng thời hội đồng xét xử xét thấy ông Võ Phi C có công sức bảo quản di sản nên được chia thêm 1 kỷ phần, bà Võ Thị T2 và Võ Thị L cũng có công quản lý di sản nên cũng được 1 kỷ phần. Tổng cộng là 11 kỷ phần, mỗi phần có giá trị: 2.784.907.636 đồng: 11 kỷ phần = 253.173.421 đồng.
[2.3.3] Tại buổi hoà giải ngày 17/5/2024 và tại phiên tòa, các ông bà Võ Thị Thúy L, Võ Thụy H, Võ Thị T2, Võ Thanh T, Võ Phi C đều thống nhất về hiện vật:
[2.3.3.1] Lô đất thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 16, diện tích 1152,0m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m, đất trồng cây lâu năm 952m² tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa hiện trạng ranh giới được chia làm 2 phần:
- Phần diện tích B (214.4 m²) được giao phần đất này cho ông T trong đó có 60m² đất ở nông thôn. Trên đất có nhà cấp 4 diện tích xây dựng 60m² và hai mái che.
- Phần đất diện tích A (937.5m²) trên đất có cấp 4 có diện tích xây dựng là 91.1m², 01 chồng heo, 01 chuồng bò và 01 nhà vệ sinh. Các bên thống nhất giao phần nhà, đất này cho ông Võ Phi C, bà Võ Thị Thúy L, Võ Thị T2. Trong đó có 140 m² đất ở nông thôn còn lại.
Xét nên ghi nhận sự thỏa thuận của các đồng thừa kế đối với hiện vật này.
[2.3.3.2] Lô đất thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Q2, bà Nguyên Thị K4 vào ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00011QSDĐ/X-CPĐ- 1XCK hiện trạng thực tế quản lý, sử dụng thì lô đất này có diện tích là 38.185,7m². Hội đồng xét xử xét thấy, hiện trạng lô đất có thể chia làm 2 phần có lối đi hiện trạng gồm có:
- Phần thứ nhất là lô đất ký hiệu A có diện tích 24.786,6m² x 20.000 đồng/m² = 495.732.000 đồng nên giao cho ông Võ Phi C quản lý, sử dụng theo thỏa thuận của các bên.
- Phần thứ hai gồm các phần B (7.202,9m²), F (5.620,5m²), E (570.4m²) có tổng diện tích là: 13.393,8 m² x 20.000 đồng/m² = 267.876.000 đồng nên giao cho ông Võ Thanh P quản lý, sử dụng.
[2.3.4] Đồng thời, các đương sự đều thống nhất ông C phải thanh toán cho các ông bà: Võ Thị Thu H7, Võ Thụy H, Võ Thanh T, Võ Thị Thúy P1 mỗi người 100.000.000 đồng. Do bà H7 hiện nay không rõ tung tích nên tạm giao cho ông C giữ 100.000.000 đồng của bà H7, nếu sau bà H7 có yêu cầu thì ông C có trách nhiệm giao lại phần tiền này cho bà H7 hoặc giải quyết bằng vụ án khác khi bà H7 có đơn khởi kiện. Xét đây là ý chí tự nguyện của các ông bà nêu trên nên ghi nhận sự thoả thuận.
[2.3.5] Đối với ông Võ Thanh P không đồng ý với phương án hoà giải nêu trên nên những người được nhận hiện vật phải thanh toán cho ông P giá trị là: 253.173.421 đồng x 2 phần = 506.346.842 đồng – phần giá trị hiện vật được chia là 267.876.000 đồng = 238.470.842 đồng.
Hội đồng xét về giá trị hiện vật được giao ông C được hưởng giá trị: 1/3 giá trị phần diện tích A thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 16 (chung với bà T2, L) + một phần thửa 24 (diện tích A) = 673.731.212 đồng + 495.732.000 đồng = 1.169.463.212 đồng, trừ tiền phải thanh toán cho 4 người (H7, H, T, P1) là 400.000.000 đồng nên giá trị còn lại được hưởng là 769.463.212 đồng và trừ phần giá trị được chia 253.173.421 đồng x 2 phần = 506.346.842 đồng thì vẫn còn hưởng chênh lệch 263.116.370 đồng.
Do vậy nên buộc 3 ông bà: T2, L và C là những người được nhận hiện vật phải thanh toán cho ông P số tiền 238.470.842 đồng, trong đó mỗi người thanh toán: 79.490.000 đồng (làm tròn).
[2.4] Về yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thu H2:
[2.4.1] Thửa số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, Thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Võ Q1 và bà Nguyễn Thị K1 ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00011QSDĐ/X-CPĐ-TXCR hiện nay do ông Võ Phi C đang quản lý. Sơ đồ thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K1 (thửa 24) lại là bản đồ giấy, không có hệ toạ độ. Hiện trạng nay có có diện tích 38.185,7m² thuộc các thửa 30, 31, 32, 56 và 290 – Tờ bản đồ số 4 gồm các phần đất có ký hiệu A, B và E theo Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ1 bản đồ và Tư vấn bất động sản Cam Ranh thiết lập.
[2.4.2] Thửa 30 – Tờ bản đồ số 04 tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa có diện tích 14.855m² đất rừng sản xuất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN477757, số cấp GCN: CH01130 do UBND Thành phố C cấp ngày 30/6/2014 cho ông Mai S1 và bà Nguyễn Thị H1. Cơ sở cấp giấy chứng nhận cho ông Mai S1, bà Nguyễn Thị H1 (thửa 30) là căn cứ vào bản đồ Vlap, không căn cứ và hiện trạng quản lý sử dụng. Ngày 22/12/2021, ông S1 và bà H1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu H2 theo hợp đồng công chứng tại V số công chứng 10387, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD.
[2.4.3] Theo các giấy chứng nhận, một phần đất diện tích F (5.620,5 m²) trong thửa số 24 đã bị cấp chồng lấn sang thửa số 30, tờ bản đồ số 04 là chưa phù hợp với hiện trạng thực tế các bên quản lý, sử dụng và tạo lập ranh giới. Ranh giới theo hiện trạng của thửa 30 của ông Mai S1, bà Nguyễn Thị H1 quản lý, sử dụng sau đó chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu H2 gồm các phần đất có ký hiệu C diện tích 9.234,5m² và D (4.422m²) (không bao gồm phần diện tích F nêu trên).
[2.4.4] Từ những cơ sở trên có thể xác định, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 30 – Tờ bản đồ số 04 tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa có diện tích 14.855m² đất rừng sản xuất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN477757, số cấp GCN: CH01130 do UBND Thành phố C cấp ngày 30/6/2014 cho ông Mai S1 và bà Nguyễn Thị H1 là có sai sót. Nay các bên đều thống nhất điều chỉnh lại hiện trạng sử dụng là hoàn toàn phù hợp, nên ghi nhận.
[2.4.5] Đồng thời, căn cứ vào ranh giới, hiện trạng sử dụng và chuyển nhượng, Hội đồng xét xử xét thấy nên điều chỉnh và công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 30 - Tờ bản đồ số 04 giữa các bên hợp đồng công chứng tại VPCC T số công chứng 10387, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD theo hiện trạng các bên đã chuyển nhượng theo yêu cầu của bà H2.
[2.4.6] Cụ thể việc công nhận hợp đồng và điều chỉnh ranh giới như sau: Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H2 thửa đất có diện tích 13.656,5 gồm phần đất có ký hiệu C (9.234,5m²) và D (4.422 m²). Bà H2 có quyền, nghĩa vụ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN477757, số cấp GCN: CH01130 do UBND Thành phố C cấp ngày 30/6/2014 đối với diện tích đất được giao.
[3] Về chi phí tố tụng:
- Phần chi phí tố tụng ông Võ Thanh T đã tạm ứng là 12.568.000 đồng, các đương sự thỏa thuận chi phí này được chia đều cho 05 anh chị em gồm ông T, ông Võ Thanh P, Võ Thụy H, Võ Thị Thúy P1, Võ Thanh C1. Ông Võ Thanh P, Võ Thụy H, Võ Thị Thúy P1, Võ Thanh C1 mỗi người hoàn trả 2.513.600 đồng cho ông Võ Thanh T, nên ghi nhận,
- Phần chi phí tố tụng mà bà H2 tạm ứng để giải quyết yêu cầu của bà H2 về thực hiện hợp đồng chuyển nhượng và bà H2 cũng đồng ý chịu phần chi phí này, không yêu cầu giải quyết, nên ghi nhận.
[4] Về án phí:
- Đối với việc chia tài sản: được tính theo giá trị phần tài sản được chia, trừ trường hợp được miễn án phí bao gồm ông Võ Thanh P, Võ Thị Thúy L (người cao tuổi) và bà Võ Thị T2 (người khuyết tật) theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đối với việc điều chỉnh ranh giới thửa đất và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Bà H2 chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Điều 618, khoản 1 Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 656 của Bộ luật dân sự 2005;
- Khoản 3 và 5 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 92, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sô vào sô câp GCN: CH01130 ngày 30/6/2014, cấp cho bà Nguyễn Thị H1 ông Mai S1 thửa đất số 30, tờ bản đồ 4, diện tích 14855,0m², địa chỉ thửa đất: thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Thanh T:
2.1 Xác định di sản thừa kế do ông Võ Q1 (chết năm: 2015) và tài sản chung của bà Nguyễn Thị K1 (chết năm 2022) với ông Q1 gồm các tài sản sau:
- Lô đất thuộc thửa đất sô 80, tờ bản đồ số 16, diện tích 1152,0m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m, đất trồng cây lâu năm 952m² tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Võ Q1, bà Nguyễn Thị K1 vào ngày 02/6/2015, số phát hành CA337104, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS-04194.
- Lô đất thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Q2, bà Nguyễn Thị K1 vào ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât 00011QSDĐ/X-CPĐ- 1XCK, hiện trạng thực tế quản lý, sử dụng thì lô đất này có diện tích là 38.185,7m² gồm các phần đất ký hiệu A, B, E và F theo Mảnh trích đo địa chính số 03/2024 ngày 06/5/2024 do Công ty TNHH Đ1 Bản đồ và tư vấn bất động sản Cam Ranh thiết lập đính kèm.
2.2 Các tài sản tại mục 2.1 được chia cho các con của ông Q1, bà K1 là ông Võ Thanh P, bà Võ Thị Thúy L, ông Võ Thụy H, bà Võ Thị T2, bà Võ Thị Thúy P1, ông Võ Thanh T, ông Võ Phi C và bà Võ Thị Thu H7.
2.3 Phương án chia tài sản như sau:
2.3.1 Về hiện vật:
2.3.1.1 Lô đất thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 16, diện tích 1152,0m², trong đó đất ở tại nông thôn 200m, đất trồng cây lâu năm 952m² tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa hiện trạng ranh giới được chia làm 2 phần:
- Giao cho ông Võ Thanh T được toàn quyền sử dụng phần đất ký hiệu B (diện tích 214.4 m²) trong đó có 60m² đất ở nông thôn. Trên đất có nhà cấp 4 diện tích xây dựng 60m² và hai mái che.
- Giao cho ông Võ Phi C, bà Võ Thị Thúy L, Võ Thị T2 (mỗi người có 1/3 phần sở hữu trong quyền sử dụng đất có ký hiệu là A (diện tích 937.5m²) trên đất có cấp 4 có diện tích xây dựng là 91.1m², 01 chồng heo, 01 chuồng bò và 01 nhà vệ sinh, trong đó có 140 m² đất ở nông thôn còn lại.
Hiện trạng phần đất ký hiệu A, B theo Mảnh trích đo địa chính số 01/2024 ngày 06/5/2024 do Công ty TNHH Đ1 Bản đồ và tư vấn bất động sản Cam Ranh thiết lập đính kèm.
2.3.1.2 Lô đất thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m², đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Q2, bà Nguyễn Thị K4 vào ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât 00011QSDĐ/X-CPĐ- 1XCK: do diện tích và hình thể lô đất không có tọa độ trên bản đồ, tuy nhiên, ông Q1, bà K1 khai hoang và sau đó ông Võ Phi C đã quản lý, sử dụng từ đó đến nay. Sau khi kiểm tra hiện trạng thực tế quản lý, sử dụng thì lô đất này có diện tích là 38.185,7m² giao hiện vật theo 2 phần như sau:
- Giao cho ông Võ Phi C được toàn quyền quản lý, sử dụng lô đất ký hiệu A có diện tích 24.786,6m².
- Giao cho ông Võ Thanh P quản lý, sử dụng gồm các phần B (7.202,9m²), F (5.620,5m²), E (570.4m²) có tổng diện tích là: 13.393,8 m².
Hiện trạng phần đất ký hiệu A, B, E, F theo Mảnh trích đo địa chính số 03/2024 ngày 06/5/2024 do Công ty TNHH Đ1 Bản đồ và tư vấn bất động sản Cam Ranh thiết lập đính kèm.
2.3.1.3 Các ông, bà Võ Phi C, Võ Thanh P, Võ Thị T2, Võ Thị Thúy L có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất hiện vật được giao.
2.3.2 Về nghĩa vụ thanh toán:
- Ông Võ Phi C có nghĩa vụ thanh toán như sau: Thanh toán cho ông Võ Thanh T, ông Võ Thụy H, bà Võ Thị Thúy P1 và bà Võ Thị H7 mỗi người 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Do bà H7 hiện nay không rõ tung tích nên tạm giao cho ông C giữ 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) của bà H7, nếu sau bà H7 có yêu cầu thì ông C có trách nhiệm giao lại phần tiền này cho bà H7 hoặc giải quyết bằng vụ án khác khi bà H7 có đơn khởi kiện.
- Ông Võ Phi C, bà Võ Thị T2 và bà Võ Thị Thúy L mỗi người phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Võ Thanh P số tiền 79.490.000 đồng (Bảy mươi chín triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng).
3. Chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H2 về việc điều chỉnh hiện trạng thửa đất và công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 30 - Tờ bản đồ số 04 giữa các bên hợp đồng công chứng tại VPCC T số công chứng 10387, quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD như sau: Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H2 thửa đất có diện tích 13.656,5m² gồm phần đất có ký hiệu C (9.234,5m²) và D (4.422 m²). Bà H2 có quyền, nghĩa vụ đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN477757, số cấp GCN: CH01130 do UBND Thành phố C cấp ngày 30/6/2014 đối với diện tích đất được giao. (Hiện trạng phần đất ký hiệu C, D theo Mảnh trích đo địa chính số 03/2024 ngày 06/5/2024 do Công ty TNHH Đ1 Bản đồ và tư vấn bất động sản Cam Ranh thiết lập đính kèm.)
4. Chi phí tố tụng: Ông Võ Thanh P, Võ Thụy H, Võ Thị Thúy P1, Võ Thanh C1 mỗi người hoàn trả 2.513.600 đồng (hai triệu, năm trăm mười ba nghìn, sáu trăm đồng) cho ông Võ Thanh T.
4. Án phí:
- Ông Võ Phi C phải chịu án phí tính trên số tiền: 769.463.212 đồng (giá trị phần hiện vật được nhận) - 79.490.000 đồng (giá trị phần thanh toán cho ông P) = 689.973.212 án phí là 31.598.000 đồng (ba mươi mốt triệu, năm trăm chín mươi tám nghìn đồng).
- Ông Võ Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí không giá ngạch đối với phần đất được giao và phần giá trị được hưởng là 100.000.000 đồng. Tổng án phí là 5.300.000 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 2.800.000 đồng theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0000715 ngày 25/11/2019 và AA/2018/0000453 ngày 05/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Ông T còn phải nộp án phí là 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền án phí.
- Ông Võ Thụy H, bà Võ Thị Thúy P1 mỗi người phải chịu án phí tính trên số tiền được hưởng là 100.000.000 đồng, án phí mỗi người phải nộp là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
- Bà Nguyễn Thị Thu H2 phải chịu án phí là 300.000 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000349 ngày 15/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà H2 đã nộp đủ án phí.
5. Quy định:
Kể từ ngày người yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải trả thì hàng tháng phải chịu thêm tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Chi cục THADS tỉnh Khánh Hòa; - Chi cục THADS Tp. Cam Ranh - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiếu |
Bản án số 26/2024/DS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 26/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Võ Quốc, sinh năm: 1936 có vợ là bà Nguyễn Thị Kiều, sinh năm: 1936. Ông Quốc và bà Kiều có 08 người con đẻ (không có con riêng, con nuôi), gồm: 1/Võ Thị Thúy Loan, sinh năm: 1959 2/Võ Thanh Phụng, sinh năm: 1964 3/Võ Thúy Hoàng, sinh năm: 1966 4/Võ Thị Tiên, sinh năm: 1967 5/Võ Thanh Tuấn, sinh năm: 1969 6/Võ Thị Thúy Phượng, sinh năm: 1971 7/Võ Phi Cường, sinh năm: 1975 8/Võ Thị Hà, sinh năm: 1979, hiện không rõ địa chỉ; 9/ Võ Thanh Phương, sinh năm 1976, đã chết ngày 12/01/1991, không có vợ, con. 10/ Võ Phú, sinh năm 1973, chết năm 2010, không có vợ, con. Ông Quốc và bà Kiều có tạo lập tài sản gồm có: - Lô đất thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04, diện tích 40.400m2, đất rừng sản xuất tọa lạc tại thôn Suối Môn, xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được UBND thị xã Cam Ranh (nay là thành phố Cam Ranh), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Quốc, bà Nguyễn Thị Kiều vào ngày 22/9/2003, số phát hành X337708, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00011QSDĐ/X-CPĐ- 1XCK. - Lô đất thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 16, diện tích 1152,0m2, trong đó đất ở tại nông thôn 200m2, đất trồng cây lâu năm 952m2 tọa lạc tại thôn Suối Môn, xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Lô đất này đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Võ Quốc, bà Nguyễn Thị Kiều vào ngày 02/6/2015, số phát hànhCA337104, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS-04194. Trên lô đất này có căn nhà cấp 4 diện tích khoảng 100m do ông Võ Quốc và bà Nguyễn Thị Kiều xây cất. Trong quá trình sử dụng, hộ ông Võ Quốc bà Nguyễn Thị Kiều đã tặng cho nguyên đơn một phần diện tích đất ngang 5m x dài 40m = 200m2 từ năm 2005, không giấy tờ. Nguyên đơn đã xây dựng nhà ở trên phân diện tích đất được tặng cho này. Ông Võ Quốc chết vào ngày 01/3/2015 và đã được UBND xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng tử số 23 ngày 10/3/2015. Ông Võ Quốc chết không để lại di chúc. Hiện nay nguyên đơn và các thành viên của hộ gia đình đồng thời là người thừa kế theo pháp luật của ông Võ Quốc không thỏa thuận được nên đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết chia tài sản chung và di sản thừa kế là toàn bộ nhà và đất nói trên theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra nguyên đơn còn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN: CH01130 ngày 30/6/2014, cấp cho bà Nguyễn Thị Hạnh ông Mai Sinh thửa đất số 30, tờ bản đồ 4, diện tích 14855,0m2, địa chỉ thửa đất: thôn Suối Môn, xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa vì cấp chồng lấn vào thửa đất số 24, tờ bản đồ số 04.
