|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày 15-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Liên.
Ông Nguyễn Văn Ái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2023/TLST-HS ngày 30/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HS ngày 01/11/2023 đối với các bị cáo:
- Lý Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1993; nơi sinh: huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn L, sinh năm 1975 (đã chết) và con bà: Phàn Thị M, sinh năm 1971; có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ: Phàn Thị Ằ, sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Trương Văn Đ; tên gọi khác: Không; sinh năm 1978; nơi sinh: huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn T1, sinh năm 1951 (đã chết) và con bà: Lý Thị H, sinh năm 1949; có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; có vợ: Lý Thị N, sinh năm 1977 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Lý Văn Đ1; tên gọi khác: Không; sinh năm 1997; nơi sinh: huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn T2, sinh năm 1975 và con bà: Đặng Thị T3, sinh năm 1962; có 03 chị em ruột, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ: Lý Thị M1, sinh năm 2004 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2021, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn T: Bà Hoàng Thị Ngọc M2 - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt).
Người bào chữa cho các bị cáo Trương Văn Đ và Lý Văn Đ1: Ông Nguyễn Xuân G - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt).
Nguyên đơn dân sự: Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang; người đại diện ông Nguyễn Thanh C - Chức vụ: Viên chức (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 02/2021 (không nhớ rõ ngày) Lý Văn T rủ Trương Văn Đ và Lý Văn Đ1 cùng đi khai thác gỗ N1 làm thớt bán lấy tiền chia nhau. Khi đi cả ba mang theo máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam - đen lam xích dài 80cm của Lý Văn T, 03 con dao, 01 can nhựa 05 lít, 01 chai Pepsi đựng nhớt cùng 01 đoạn thước mét đi lên đồi thảo quả thuộc khu rừng phòng hộ thuộc thôn P, xã Y, huyện B, đến nơi phát hiện 01 cây gỗ Nghiến (Ký hiệu G02) còn tươi thẳng đứng cao khoảng 12m, đường kính trung bình 65cm. Sau đó cả 03 người thống nhất chặt hạ cây gỗ trên xẻ làm thớt. T trực tiếp dùng máy cưa xăng mang theo cắt khoảng 10 phút thì cây đổ, sau đó cùng Đ tiếp tục dùng máy cưa xẻ thân cây thành các cục gỗ dạng thớt để Điện đẽo tròn, tổng cộng xẻ được 60 cục gỗ Nghiến dạng thớt, đường kính 35cmx5cm và để lại hiện trường. Sau đó cả ba đã chia đều 60 cục Nghiến thu được và mỗi người tự vận chuyển phần được chia về bán, T bán 20 cục được 2.000.000 đồng, Đ bán 20 cục được 1.200.000 đồng, Đ1 bán 20 cục được 1.200.000 đồng.
Sau khi khai thác xong cây gỗ trên T, Đ, Đ1 quan sát xung quanh phát hiện 01 cây gỗ Nghiến khác (Ký hiệu G03) còn tươi cách vị trí khai thác ban đầu khoảng 100m, cây gỗ cao khoảng 11m, đường kính trung bình 60cm, Đ đi sang vị trí cây gỗ trên dùng máy cưa xăng cắt đổ cây gỗ đó với mục đích tiếp tục xẻ làm thớt nhưng khi cây đổ phát hiện thân cây bị nứt không thể xẻ thớt nên các bị cáo không tiếp tục cắt xẻ mà để lại tại hiện trường.
Khoảng tháng 11/2021 (không nhớ rõ ngày) Đ cùng Phàn Văn S và Lý Văn N2 đi lên khu rừng phòng hộ thuộc thôn P khai thác 01 (Một) gốc cây gỗ Nghiến đã bị người khác cắt hạ từ trước (Ký hiệu G01), gốc cây có đường kính khoảng 2m, cao khoảng 4m được 35 cái thớt, có kích thước 35cmx5cm, sau đó vận chuyển về gần nhà N2 cất giấu. Số thớt này N2 bán cho một người không rõ tên tuổi được số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) rồi chia cho Đ, S mỗi người được 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 17/5/2023 xác định 01 gốc cây gỗ Nghiến có ký hiệu G01 có khối lượng 4,034m³ (số gỗ tác động khai thác là 0,509m³) thuộc lô 28, khoảnh 10, tiểu khu A; 02 cây gỗ Nghiến có ký hiệu G02, G03 có tổng khối lượng 8,368m³ (số gỗ bị tác động mất đi khỏi hiện trường có khối lượng 0,368m³) thuộc lô 48, khoảnh 9, tiểu khu A. Đối tượng rừng: Thuộc rừng phòng hộ là rừng tự nhiên (Theo bản đồ quy hoạch ba loại rừng năm 2018 được UBND tỉnh phê duyệt) do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý, bảo vệ. Thu giữ tại hiện trường 11,525m³, hiện số gỗ trên đã tạm giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý, bảo vệ.
Tại bản kết luận giám định số 04-2023/KL/TCGĐ ngày 05/6/2023 của Chi cục kiểm lâm tỉnh H, kết luận đối với mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 đồng nhất một chủng loại gỗ, tên và nhóm gỗ cụ thể như sau: Tên Việt Nam Nghiến. Tên khoa học: B (Gagnep.) K. (Excentrodendron tonkinense (A.Chev.) H.T.Chang&R.H.Miau).
Loài N1 được xếp nhóm IIA trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm” ban hành kèm theo nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
Tại các Kết luận định giá tài sản số 10 ngày 19/6/2023 và 15 ngày 25/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện B kết luận: 01 gốc cây gỗ Nghiến do Trương Văn Đ, Phàn Văn S, Lý Văn N2 khai thác có khối lượng 4,034m³ có giá trị là 41.146.300đ (Bốn mươi mốt triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm đồng); 02 (Hai) cây gỗ Nghiến do Trương Văn Đ, Lý Văn Đ1 và Lý Văn T khai thác có tổng khối lượng 8,368m³ có giá trị là 85.124.100đ (Tám mươi lăm triệu một trăm hai mươi bốn nghìn một trăm đồng). Trong đó 60 cục gỗ dạng thớt không thu hồi được có tổng khối lượng 0,368m³ có tổng giá trị là 3.753.600đ (Ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm đồng).
Ngày 13/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện B ra quyết định khởi tố bị can đối với Lý Văn T, Trương Văn Đ, Lý Văn Đ1 về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản quy định tại điểm d khoản 1 Điều 232 BLHS.
Tang vật thu giữ gồm:
02 (Hai) cây gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn lại tại hiện trường là 8,0m³ (T mét khối), hiện giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý, bảo vệ; 01 (Một) máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna 365,màu sơn cam - đen, lam xích dài 80cm đã qua sử dụng; 01 (Một) con dao quắm dài 55cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 27cm (dao cũ đã qua sử dụng); 01 (Một) con dao quắm dài 55cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 23cm (dao cũ đã qua sử dụng).
Đối với 01 (Một) đoạn thước dây kim loại; 01 (Một) can nhựa; 01 (Một) chai pepsi đựng nhớt sau khi khai thác gỗ các đối tượng đã bỏ lại trên rừng nên không truy thu được.
Đối với 60 (Sáu mươi) cục gỗ Nghiến dạng thớt T, Đ, Đ1 đã vận chuyển về sau đó bán cho những người không biết nhân thân, lai lịch không truy thu được.
Đối với 01 (Một) gốc cây gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn lại tại hiện trường là 3,504m³ (Ba phẩy năm trăm linh bốn mét khối) do Đ, N2, S tác động khai thác; 01 (Một) con dao quắm dài 46cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 4,4cm, chuôi dao bằng gỗ dài 24cm của S. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển cho Hạt kiểm lâm huyện B xử lý theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 3.753.600đ (Ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm đồng) là giá trị của 0,368m³ (không phẩy ba trăm sáu mươi tám mét khối) gỗ Nghiến các bị cáo đã khai thác, vận chuyển ra khỏi hiện trường. Hiện các bị cáo đã bồi thường xong.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSBM ngày 29/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố các bị cáo Lý Văn T, Trương Văn Đ, Lý Văn Đ1 về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa, trên cơ sở phân tích các căn cứ quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Văn T, Trương Văn Đ, Lý Văn Đ1 phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
- - Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2, Điều 4 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt: Bị cáo T từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 32 tháng; bị cáo Đ từ 13 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26 tháng đến 30 tháng; bị cáo Điện từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- - Về hình phạt bổ sung: Không.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc các bị cáo T, Đ, Đ1 bồi thường số tiền 3.753.600đ (Ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm đồng) là giá trị của 0,368m³ (Không phẩy ba trăm sáu mươi tám mét khối) gỗ Nghiến đã bị khai thác, vận chuyển ra khỏi hiện trường cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B để nộp sung công quỹ Nhà nước. Trong đó:
Bị cáo T phải bồi thường số tiền 1.251.200đ; bị cáo Đ phải bồi thường số tiền 1.251.200đ; bị cáo Đ1 phải bồi thường số tiền 1.251.200đ được khấu trừ toàn bộ vào số tiền các bị cáo đã nộp theo các biên lai số 0003204; số 0003203; số 0003202 ngày 31/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
- - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 của BLTTHS.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước gồm: 02 (Hai) cây gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn lại tại hiện trường là 8,0m³ (T4 mét khối).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) máy cưa xăng, trên máy có ghi ký hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam - đen, lam xích dài 80cm (máy cũ đã qua sử dụng); 01 (Một) con dao quắm dài 55cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 27cm; 01 (Một) con dao quắm dài 55cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 23cm.
- - Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho các bị cáo T, Đ, Đ1.
Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn T nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 BLHS. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, luôn hợp tác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số gỗ bị mất đi, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo T 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng. Về trách nhiệm dân sự, hình phạt bổ sung và án phí: Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo Trương Văn Đ và Lý Văn Đ1 nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 BLHS. Xét về nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật hạn chế, đều thuộc hộ cận nghèo, không có công ăn việc làm ổn định, vì mưu sinh nên mới phạm tội, bị cáo Đ đang bị bệnh, bị cáo Đ1 có con nhỏ, đều là lao động chính trong gia đình, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã bồi thường thiệt hại số gỗ bị mất đi, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đ 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 tháng. Xử phạt bị cáo Đ1 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng. Về trách nhiệm dân sự, hình phạt bổ sung và án phí: Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Các bị cáo T, Đ, Đ1 nhất trí với ý kiến của người bào chữa không bổ sung thêm gì và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Nguyên đơn dân sự nhất trí quan điểm của Kiểm sát viên về trách nhiệm dân sự không yêu cầu gì thêm.
Các bị cáo thực hiện nói lời sau cùng đề nghị xem xét hoàn cảnh bản thân và gia đình khó khăn xin được giảm mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Tháng 02 năm 2021, Lý Văn T, Trương Văn Đ, Lý Văn Đ1 đã có hành vi khai thác trái phép 02 cây gỗ Nghiến nhóm IIA tại khu rừng phòng hộ thôn P, xã Y, huyện B có tổng khối lượng là 8,368m³ giá trị là 85.124.100đ (Tám mươi lăm triệu một trăm hai mươi bốn nghìn một trăm đồng), vị trí khai thác thuộc lô 48, khoảnh 9, tiểu khu A (theo bản đồ quy hoạch ba loại rừng năm 2018 được UBND tỉnh H phê duyệt), đối tượng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên do Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang quản lý. Như vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 của BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến chế độ quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền luôn quan tâm bảo vệ, phát triển rừng gắn liền với việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, tạo sinh kế đối với các đồng bào dân tộc thiểu số gần rừng để giữ gìn nguồn tài nguyên sinh thái tự nhiên. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi khai thác gỗ không có giấy phép là trái pháp luật và làm ảnh hưởng xấu đến ý thức bảo vệ rừng của cộng đồng nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân nên vẫn cố ý vi phạm. Không chỉ gây thiệt hại đến tài sản nhà nước mà hành vi của các bị cáo còn gây tổn hại đến nguồn tài nguyên rừng và hệ sinh thái, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên. Do đó, cần xử lý các bị cáo nghiêm minh với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội từng bị cáo đã gây ra.
[4] Vai trò phạm tội: Các bị cáo là đồng phạm thuộc trường hợp giản đơn, không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể từng người khi phạm tội. Xuất phát từ lợi ích vật chất nên các bị cáo đã cùng nhau bàn bạc, thống nhất và chuẩn bị các vật dụng đi lên rừng khai thác gỗ nghiến mục đích xẻ làm thớt để bán, sau khi xẻ được thớt thì phân chia số gỗ nghiến thu được số lượng tương đương nhau. Tuy nhiên các bị cáo tham gia khai thác gỗ với tính chất và mức độ khác nhau.
[4.1] Đối với bị cáo T là người khởi xướng việc đi khai thác gỗ nghiến và là người thực hành tích cực, trực tiếp mang theo máy cưa xăng cắt hạ cây gỗ Nghiến nên phải chịu mức án cao hơn các bị cáo còn lại.
[4.2] Đối với bị cáo Đ là người thực hành tích cực tuy nhiên sau khi khai thác gỗ Nghiến cùng T và Đ1 vẫn tiếp tục có hành vi khai thác gỗ N1 cùng N2 và S, thể hiện thái độ coi thường pháp luật nên phải chịu mức án cao hơn bị cáo Đ1.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại tương đương giá trị số gỗ bị mất đi không thu hồi được. Đối với bị cáo Đ còn có bố đẻ tham gia dân công hỏa tuyến được hưởng chế độ của Nhà nước. Do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà giao các bị cáo về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ để giáo dục, răn đe và đảm bảo được mục đích của hình phạt nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[6] Các bị cáo T, Đ, Đ1 hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Xét thấy các bị cáo bị phạt tù nhưng được hưởng án treo nên không cần tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định tại Điều 125, Điều 278 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo, cận nghèo, cư trú tại vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn của địa phương, đều là Làm ruộng không có thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn dân sự yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 3.753.600₫ (Ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm đồng) là giá trị của 0,368m³ (Không phẩy ba trăm sáu mươi tám mét khối) gỗ Nghiến đã bị khai thác, vận chuyển ra khỏi hiện trường để nộp sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là 1.251.200 đồng và được khấu trừ toàn bộ vào số tiền các bị cáo đã nộp theo các biên lai số ; số 0003204; số 0003203; số 0003202 ngày 31/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
[9] Đối với khoản thu lợi bất chính từ việc bán gỗ nghiến của các bị cáo: Trong đó T là 2.000.000 đồng; Đ là 1.200.000 đồng; Đ1 là 1.200.000 đồng. Hiện các bị cáo đã tiêu xài hết, do hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, không có thu nhập ổn định, HĐXX không truy thu số tiền trên.
[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 (Hai) cây gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn lại tại hiện trường là 8,0m³ (T4 mét khối) cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với 01 máy cưa xăng màu sơn cam - đen, 02 con dao quắm là công cụ phạm tội hiện đã hư hỏng, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.
[11] Trong vụ án này có một số hành vi và đối tượng liên quan sau:
[11.1] Hành vi khai thác 01 gốc cây gỗ Nghiến có khối lượng 4,034m³ của Trương Văn Đ, Lý Văn N2, Phàn Văn S chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chuyển hồ sơ kèm theo tang vật liên quan đến Hạt kiểm lâm huyện B xử lý là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.
[11.2] Đối với những người thu mua các cục dạng thớt mà T, Đ, Đ1 khai thác do quá trình điều tra không đủ cơ sở xác định nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
[12] Từ những căn cứ trên xét thấy mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị, đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí là có căn cứ được chấp nhận.
[13] Về án phí: Các bị cáo T, Đ, Đ1 đều là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo, cận nghèo của địa phương và có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn toàn bộ án phí cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
[14] Trợ giúp viên pháp lý bào chữa đề nghị về mức án đối với bị cáo T là 14 tháng tù cho hưởng án treo; bị cáo Đ là 13 tháng tù cho hưởng án treo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. Trợ giúp viên pháp lý bào chữa đề nghị mức án 09 tháng tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Đ1 là chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án cao hơn nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[15] Quyền kháng cáo: Các bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Văn T, Trương Văn Đ, Lý Văn Đ1 phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
- Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; Điều 50; Điều 58; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2, Điều 4 Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt: Lý Văn T 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Trương Văn Đ 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 26 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Lý Văn Đ1 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Lý Văn T, Trương Văn Đ, Lý Văn Đ1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.
Hủy bỏ ngay biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Lý Văn T, Trương Văn Đ, Lý Văn Đ1.
- Về hình phạt bổ sung: Không.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc các bị cáo Lý Văn T, Trương Văn Đ, Lý Văn Đ1 bồi thường cho Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang số tiền 3.753.600đ (Ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm đồng).
Trong đó: Bị cáo Lý Văn T bồi thường số tiền 1.251.200 đồng được khấu trừ toàn bộ vào số tiền đã nộp là 1.251.200 đồng theo biên lai thu tiền số 0003204 ngày 31/10/2023 của Chi cục THADS huyện B
Bị cáo Trương Văn Đ bồi thường số tiền 1.251.200 đồng được khấu trừ toàn bộ vào số tiền đã nộp là 1.251.200 đồng theo biên lai thu tiền số 0003203 ngày 31/10/2023 của Chi cục THADS huyện B
Bị cáo Lý Văn Đ1 bồi thường số tiền 1.251.200 đồng được khấu trừ toàn bộ vào số tiền đã nộp là 1.251.200 đồng theo biên lai thu tiền số 0003202 ngày 31/10/2023 của Chi cục THADS huyện B
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 02 (Hai) cây gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn lại tại hiện trường là 8,0m³ (T4 mét khối).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) máy cưa xăng, trên máy có ghi ký hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam - đen, lam xích dài 80cm (máy cũ đã qua sử dụng); 01 (Một) con dao quắm dài 55cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 27cm; 01 (Một) con dao quắm dài 55cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 23cm.
(Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lý Văn T, Trương Văn Đ, Lý Văn Đ1 được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Hoàng Văn Thuận |
Bản án số 26/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 26/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Văn T
