|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 26/2021/HS-ST Ngày 16 - 3 - 2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Đức Toàn;
- Bà Tô Thị Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm K Linh, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 2 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Duy K, sinh ngày 03/4/1988 tại Thái Bình.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 10, phường Đề Thám, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Chỗ ở: Thôn P, xã V, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12;
Con ông Trần Ngọc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/12/2020 đến ngày 10/12/2020 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đỗ Viết Đ, sinh năm 1980; Đăng ký hộ khẩu tại số nhà 01/205, đường L, tổ 11, phường K, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Những người chứng kiến:
- + Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Thôn P, xã V, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- + Anh Vũ Văn T1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn N, xã V, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 07/12/2020, Trần Duy K bắt xe ôm của một người nam giới không quen biết từ chỗ ở ra khu vực bến xe khách Thành phố Thái Bình mục đích mua ma túy về bán kiếm lời. Đến nơi, K gặp và mua của 01 người phụ nữ khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ cụ thể 34 gói ma túy đựng trong hộp sắt có chữ DOUBLEMINT với giá 3.500.000 đồng. K nhận ma túy rồi bắt xe ôm về chỗ ở của mình tại Thôn P, xã V, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tại chỗ ở của mình, K lấy ra 06 gói ma túy vừa mua được cất vào túi quần bên trái phía trước của K để ai hỏi thì bán; 28 gói ma túy còn lại K đựng trong hộp sắt có chữ DOUBLEMINT và cất trong ngăn kéo tủ gỗ. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, khi K đang ở phòng trọ thì có anh Đỗ Viết Đ đi xe ôm của anh Vũ Văn T1 đến hỏi mua 200.000 đồng ma túy. K lấy từ trong người ra 01 gói ma túy đưa cho anh Đ rồi nhận lại của anh Đ 200.000 đồng. Khi K vừa cất số tiền bán ma túy cho anh Đ vào túi quần đang mặc thì bị bắt quả tang. Thu tại túi quần trái phía trước anh Đ đang mặc 01 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (niêm phong, ký hiệu M1). Anh Đ khai là Heroine vừa mua của Trần Duy K với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra người K thu tại túi quần bên trái phía trước 05 gói đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng bạc, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, K khai đều là Heroine của K cất giấu để bán kiếm lời (niêm phong, ký hiệu M2). Thu tại túi quần sau bên trái của K đang mặc 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có viết chữ 1977 VLOG, K khai là tiền vừa bán ma túy cho anh Đ mà có. Kiểm tra người anh Vũ Văn T1 và xe máy do T1 điều khiển không phát hiện, thu giữ gì.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Duy K, thu trong ngăn kéo tủ gỗ 01 hộp sắt có chữ DOUBLEMINT bên trong có 28 gói đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng bạc, có chứa chất bột màu trắng dạng cục. K khai đều là Heroine của K cất giấu để bán kiếm lời (niêm phong, ký hiệu M3).
Kết luận giám định số 422/KLGĐMT - PC09 ngày 08/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận:
- - Mẫu vật trong phong bì niêm phong gửi giám định ký hiệu M1 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,0342 gam;
- - Mẫu vật trong phong bì niêm phong gửi giám định ký hiệu M2 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,6315 gam;
- - Mẫu vật trong phong bì niêm phong gửi giám định ký hiệu M3 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 3,2603 gam.
Tại bản cáo trạng số 31/CT- VKSTPTB ngày 03/02/2021 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Trần Duy K về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Duy K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử tuyên án bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 05 năm tù đến 06 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2020, phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng là tiền K bán ma túy mà có, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu của anh Đỗ Viết Đ và bị cáo Trần Duy K còn lại sau giám định. Tịch thu tiêu hủy 01 hộp có chữ DOUBLEMINT.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra và truy tố cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ 00 phút 07/12/2020, tại Thôn P, xã V, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình Trần Duy K đã bán cho anh Đỗ Viết Đ 0,0342 gam ma túy loại Heroine được 200.000 đồng, ngoài ra K còn tàng trữ 33 gói ma túy loại Heroine có trọng lượng 3,8918 gam nhằm bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất gây nghiện của nhà nước, làm lan tràn tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây nhiều tác động xấu đến xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vì hám lời nên vẫn cố ý thực hiện hành vi. Hành vi của Trần Duy K đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Như vậy Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Trần Duy K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Duy K khai báo khẩn khai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[6] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi do bị cáo thực hiện cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nên khi lượng hình cũng xem xét bị cáo khẩn khai báo để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Tuy nhiên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
[7] Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”, xét K bán ma túy nhằm thu lời, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án: Theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, số tiền 200.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước; số ma túy quản lý của anh Đỗ Viết Đ và bị cáo Trần Duy K còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 hộp có chữ DOUBLEMINT bị cáo dùng để cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[9] Các vấn đề khác: Đối với anh Đỗ Viết Đ là người mua ma túy của Trần Duy K để sử dụng, anh Đ chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lượng ma túy tàng trữ chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nên cơ quan Điều tra đã ra quyết định xử lý hành chính đối với anh Đ là đúng quy định của pháp luật. Anh Vũ Văn T1 là người chở anh Đ đến nhà trọ của K để mua ma túy nhưng anh T1 không biết gì về việc mua bán ma túy giữa bị cáo K và anh Đ nên không xử lý. Về nguồn gốc số ma túy Trần Duy K khai mua của một người phụ nữ không biết tên, địa chỉ tại khu vực bến xe khách Thành phố Thái Bình nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Trần Duy K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Duy K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2020. Phạt tiền bị cáo Trần Duy K 5.000.000 (Năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng quản lý của Trần Duy K. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy quản lý của anh Đỗ Viết Đ và của bị cáo Trần Duy K còn lại sau giám định được niêm phong trong 03 phong bì bên ngoài ghi số 422/KLGĐ – PC 09, mẫu vật hoàn trả sau khi giám định. Tịch thu tiêu hủy 01 hộp có chữ DOUBLEMINT.
- Về án phí: Bị cáo Trần Duy K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Duy K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/3/2021. Anh Đỗ Viết Đ có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 26/2021/HS-ST ngày 16/03/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 26/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/03/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Duy K mua bán chất ma túy
