|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST Ngày 31 tháng 5 năm 2021 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Phiên toà: Bà Lê Thị Thu Huyền;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo; Bà Nguyễn Thị Phẩm.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị H Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1996; ĐKHKTT: Khu 6 (Nay là khu 2), xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Bùi Tiến H, sinh năm 1991; ĐKHKTT: Khu 6 (Nay là khu 2), xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Anh H hiện đang ở Đài Loan.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Trọng H, sinh năm 1967 và bà Đào Thị L, sinh năm 1970; ĐKHKTT: Khu 6 (Nay là khu 2), xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày: Chị và anh Bùi Tiến H đăng ký kết hôn ngày 03/9/2013 tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống cùng bố mẹ đẻ của anh H tại khu 6 (Nay là khu 2), xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khi chị sinh cháu thứ hai thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng. Đến cuối năm 2018 anh H đi lao động tại Đài Loan và hiện nay chưa quay trở lại Việt Nam. Kể từ khi anh H đi Đài Loan vợ chồng không còn liên lạc với nhau, không có sự quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau. Từ tháng 5 năm 2019 chị đã chuyển về sống cùng bố mẹ đẻ tại khu 2, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Tiến H.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim H xác định vợ chồng có 02 con chung là Bùi Đức A, sinh ngày 03/11/2013 và Bùi Ngọc Đ, sinh ngày 25/6/2016. Khi ly hôn chị H nhất trí để cho anh Bùi Tiến H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu A và cháu Đ. Anh H không đề nghị chị phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H. Trong thời gian anh H ở nước ngoài chị đồng ý để bố mẹ đẻ anh H là ông Bùi Trọng H và bà Đào Thị L sẽ chăm sóc và nuôi dưỡng A, cháu Đăng cho đến anh H về Việt Nam đón hai cháu.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị H xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn: Chị Nguyễn Thị Kim H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Nguyễn Thị Kim H khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Tiến H là quan hệ “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trong đơn xin ly hôn, chị H trình bày hiện anh H đang sống và làm việc tại Đài Loan. Tại văn bản số 9945/QLXNC-P5 ngày 19/4/2021 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an xác nhận: “Bùi Tiến H, sinh ngày 22/9/1991, đã xuất cảnh ngày 17/10/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý và giải quyết, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 55; Điều 81, 82, 83; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; khoản 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim H và anh Bùi Tiến H.
- Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị Kim H và anh Bùi Tiến H: Giao cháu Bùi Đức A, sinh ngày 03/11/2013 và Bùi Ngọc Đ, sinh ngày 25/6/2016 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H. Trong thời gian anh H ở nước ngoài bố mẹ đẻ anh H là ông Bùi Trọng H và bà Đào Thị L sẽ chăm sóc và nuôi dưỡng cháu A, cháu Đ cho đến khi anh H về Việt Nam đón hai cháu.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Bùi Tiến H thống nhất xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim H tự nguyện chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cục THADS tỉnh Phú Thọ; - UBND xã L, huyện T; - Các đương sự; - Lưu: HS- AV. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Thu Huyền |
Bản án số 26/2021/HNGĐ-ST ngày 31/05/2021 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 26/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Kim Hoa xin ly hôn anh Bùi Tiến Hương
