TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 2598/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/6/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Cảnh Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Thu Oanh
- Ông Phạm Văn Tâm
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Dũng – Thư ký Tòa
án nhân dân thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc H – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2515/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2205/2024/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3348/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Ông Trần Văn V, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Địa chỉ: C Hồ B, phường P, thành phố T, Thành H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là bà Phan Thị L trình bày:
Bà L và ông Trần Văn V tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11, do Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 15/01/2013.
Cuộc sống chung của bà L và ông Vinh hạnh p. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp với nhau, ông V có khi còn đánh vợ nên vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà L xin được ly hôn với ông Trần Văn V.
Về con chung: Bà Phan Thị L và ông Trần Văn V có 01 con chung tên Trần Thiên H1, sinh ngày 10/8/2016. Bà L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông V không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phan Thị L có đơn không yêu cầu tiến hành hòa giải, ông Trần Văn V vắng mặt không có lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được và vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và bị đơn là ông Trần Văn V có địa chỉ tại thành phố T, Thành H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phan Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Văn V được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông V theo quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thì bà Phan Thị L và ông Trần Văn V đã chung sống, có đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11, do Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 15/01/2013 nên quan hệ hôn nhân giữa bà L, ông V là hợp pháp.
Bà L cho rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp với nhau, ông V có khi đánh bà L.
Theo Công văn trả lời xác minh mâu thuẫn của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận: Tình trạng hôn nhân giữa bà Phan Thị L và ông Trần Văn V cũng như mâu thuẫn giữa hai bên, vấn đề con chung, Ủy ban nhân dân phường P không nắm rõ, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Điều 19: Tình nghĩa vợ chồng
1. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2....”
Xét, quá trình sống chung giữa các bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tình cảm, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Ông V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông V vẫn không đến và không có ý kiến, thể hiện ông V không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của ông và bà L. Xét, tình trạng mâu thuẫn giữa bà L, ông V trầm trọng, cuộc sống chung thực sự không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, việc bà L yêu cầu ly hôn với ông V là có cơ sở giải quyết.
Về con chung: Bà Phan Thị L và ông Trần Văn V có 01 con chung tên Trần Thiên H1, sinh ngày 10/8/2016. Bà L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông V không cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại Bản tự khai, con chung Trần Thiên H1 có nguyện vọng sống chung với bà L trong trường hợp bà L và ông V ly hôn với nhau.
Do đó, bà L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung là có cơ sở chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L tự khai không có; ông V vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa thống nhất, phù hợp hơp vơi nhận định của Hội đồng xét xư nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Phan Thị L phải chịu án phí dân sự về giải quyết ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị L với ông Trần Văn V.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11, do Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 15/01/2013 cho bà Phan Thị L và ông Trần Văn V không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
2.1. Giao con chung tên Trần Thiên H1, sinh ngày 10/8/2016 cho bà Phan Thị L trực tiếp nuôi dưỡng
2.2. Ông Trần Văn V không cấp dưỡng nuôi con chung. Ông V được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
Vì quyền lợi mọi mặt của người con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết
5. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị L phải chịu án phí dân sự về giải quyết ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà bà L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005791 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, bà Phan Thị L đã nộp đủ án phí.
Thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Trường hợp, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Cảnh Long |
Bản án số 2598/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn
- Số bản án: 2598/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
