Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 2591/2024/DS-ST

Ngày: 20 – 6 – 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Nguyễn Thị Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1697/2023/TLST-DS ngày 27/10/2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2560/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 3533/2024/QĐST – DS ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T2 (Việt Nam);

Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Công ty TNHH MTV T3; Địa chỉ: P, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Nguyễn Thị Xuân M là người đại diện theo pháp luật làm đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 199/2023/GUQ – MAFC ngày 23/5/2023).

Công ty TNHH MTV T3 ủy quyền lại cho bà Lâm Thị Thùy D– Chuyên viên pháp lý của Công ty TNHH MTV T3 làm đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền lập ngày 10/6/2024).

Bị đơn: Ông Nguyễn Công D1, sinh năm 1998;

Địa chỉ: 1 đường N, Tổ C, khu phố M, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/9/2023, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Công ty T2 (Việt Nam) có Lâm Thị Thùy D đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 03/06/2022 Công ty T2 (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T2) ký đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3233083 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Nguyễn Công D1 với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng bao gồm khoản vay là 30.000.000 đồng, phí bảo hiểm 1.980.000 đồng, lãi suất hàng tháng 3.67%, lãi suất theo năm 44%/năm. Sau khi ký kết, Công ty T2 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Nguyễn Công D1. Theo Hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Công D1 có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.615.202 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 10/07/2022 đến ngày 10/06/2025.

Quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 07/02/2023 ông Nguyễn Công D1 đã không thanh toán/thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T2 đã giải ngân.

Công ty T2 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị ông Nguyễn Công D1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T2 cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho ông Nguyễn Công D1 biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông Nguyễn Công D1 vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T2.

Nay Công ty T2 (Việt Nam) yêu cầu:

Buộc bị đơn ông Nguyễn Công D1 phải thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T2 (Việt Nam) với số tiền tạm tính đến ngày 20/6/2024 là 47.389.197 đồng (Bốn mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi chín nghìn, một trăm chín mươi bảy đồng), trong đó lãi trong hạn: 13.396.026 đồng, lãi quá hạn: 4.879.940 đồng, lãi chậm trả: 950.931 đồng.

Buộc ông Nguyễn Công D1 thanh toán lãi phát sinh từ ngày 21/6/2024 đến khi hoàn tất việc thanh toán khoản vay.

Bị đơn ông Nguyễn Công D1 vắng mặt nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Theo những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy Công ty T2 (Việt Nam) yêu cầu ông Nguyễn Công D1 thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 20/6/2024 là 47.389.197 đồng (Bốn mươi bảy triệu, ba trăm tám

2

mươi chín nghìn, một trăm chín mươi bảy đồng), trong đó: Nợ gốc là 28.162.300 đồng lãi trong hạn: 13.396.026 đồng, lãi quá hạn: 4.879.940 đồng, lãi chậm trả: 950.931 đồng là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn Công ty T2 khởi kiện vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với ông Nguyễn Công D1 địa chỉ: 1 đường N, Tổ C, khu phố M, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đây là tranh chấp hợp đồng về dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì bị đơn ông Huỳnh Kim T có địa chỉ tại thành phố T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào kết quả trả lời xác minh của Công an phường L trả lời: Công dân Nguyễn Công D1, sinh năm: 1998 có hộ khẩu thường trú và đang cư trú thực tế tại 1 đường N, Tổ C, khu phố M, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai văn bản tố tụng tại địa chỉ 1 đường N, Tổ C, khu phố M, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; trụ sở Ủy ban nhân dân L và tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhưng ông D1 vẫn vắng mặt không có lý do, cụ thể:

  • Lần 1: Vào ngày 27/11/2023, niêm yết Thông báo thụ lý vụ án số 1697/2023/TB-TLVA ngày 27/10/2023 và giấy triệu tập đương sự ngày 13/11/2023, triệu tập ông Nguyễn Công D1 đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 12/12/2023 để trình bày lời khai và cung cấp tài liệu chứng cứ;
  • Lần 2: Vào ngày 04/3/2024, niêm yết Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 1697/TB-TA ngày 22/02/2024 và giấy triệu tập đương sự ngày 22/02/2024, triệu tập ông Nguyễn Công D1 đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 21/03/2024 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;
  • Lần 3: Vào ngày 05/4/2024, niêm yết Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 1963/TB-TA ngày 27/03/2024 và giấy triệu tập đương sự ngày 28/03/2024, triệu tập ông Nguyễn Công D1 đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 23/4/2024 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;

3

  • Lần 4: Vào ngày 10/5/2024 niêm yết biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 23/4/2024, giấy triệu tập xét xử ngày 02/5/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2560/2024/QĐXXST – DS ngày 02/5/2024, yêu cầu ông Nguyễn Công D1 có mặt tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, số A, Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 28/5/2024 để nghe xét xử.
  • Lần 5: Vào ngày 04/6/2024, niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa số 3533/2024/QĐST-DS ngày 28/5/2024, giấy triệu tập xét xử ngày 28/5/2024 yêu cầu ông Nguyễn Công D1 có mặt tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, số A, Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 20/6/2024 để nghe xét xử.

Trong quá trình tiến hành tố tụng, ông Nguyễn Công D1 vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Công D1.

[2] Về nội dung vụ án:

Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Công D1 trả cho Công ty T2 số tiền nợ tính đến ngày 20/6/2024 là 47.389.197 đồng (Bốn mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi chín nghìn, một trăm chín mươi bảy đồng), trong đó: Nợ gốc là 28.162.300 đồng lãi trong hạn: 13.396.026 đồng, lãi quá hạn: 4.879.940 đồng, lãi chậm trả: 950.931 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3233083 ngày 03/6/2022, thể hiện: Ông Nguyễn Công D1 đề nghị Công ty T2 cho vay tổng cộng số tiền 31.980.000 đồng (Ba mươi mốt triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng) bao gồm khoản vay 30.000.000 đồng, bảo hiểm 1.980.000 đồng.

Ngày 07/6/2022, Công ty T2 đã chuyển vào tài khoản của ông Nguyễn Công D1 số tiền 30.000.000 đồng theo phiếu báo nợ, số giao dịch FT22158550296199, số tham chiếu 198828172553883.00000. Tại giấy chứng nhận bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm số 9061381 thể hiện ông Nguyễn Công D1 mua bảo hiểm tại Công ty TNHH B (M1) với số tiền là 1.980.000 đồng và giấy chứng nhận Quyền sử dụng chứng thư số FPT – CA. Như vậy có cơ sở để xác định, ông Nguyễn Công D1 vay của Công ty T2 số tiền 31.980.000 đồng.

Tại bảng báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng thể hiện từ ngày 04/7/2022 đến ngày 07/02/2023, ông Nguyễn Công D1 đã thanh toán cho Công ty T2 số tiền 13.0018.510 đồng. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về yêu cầu nợ gốc là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Công ty T2 buộc ông Nguyễn Công D1 trả số tiền nợ gốc 28.162.300 đồng.

Đối với yêu cầu tiền lãi: Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” ). Căn cứ vào mục 8 của Đ đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín

4

dụng số 3233083 ngày 03/6/2022 thì toàn bộ yêu cầu của Công ty T2 về việc yêu cầu ông D1 trả số tiền lãi tính đến hết ngày 20/6/2024 bao gồm lãi trong hạn: 13.396.026 đồng, lãi quá hạn: 4.879.940 đồng, lãi chậm trả: 950.931 đồng là có cơ sở. Từ ngày 21/6/2024, tiền lãi sẽ tiếp tục phát sinh trên số tiền nợ quá hạn theo mức lãi suất quy định tại Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3233083 ngày 03/6/2022 cho đến khi ông Nguyễn Công D1 thanh toán hết nợ. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Công ty T2 được chấp nhận nên ông Nguyễn Công D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 235, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty T2:
  2. Buộc ông Nguyễn Công D1 có trách nhiệm trả cho Công ty T2 số tiền tính đến hết ngày 20/6/2024 là 47.389.197 đồng (Bốn mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi chín nghìn, một trăm chín mươi bảy đồng), trong đó: Nợ gốc là 28.162.300 đồng lãi trong hạn: 13.396.026 đồng, lãi quá hạn: 4.879.940 đồng, lãi chậm trả: 950.931 đồng

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3233083 ngày 03/6/2022 cho đến khi ông Nguyễn Công D1 thanh toán hết nợ.

    Các bên thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Ông Nguyễn Công D1 phải chịu án phí sơ thẩm là 2.369.000 đồng (Hai triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn đồng).

    H lại cho Công ty T2 số tiền tạm ứng án phí là 868.180 (T1 trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm tám mươi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số

5

AA/2023/0006119 ngày 26/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo:
  2. Công ty T2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Ông Nguyễn Công D1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

    Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Hà Thị Hoài

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2591/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 2591/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty ASET- Nguyễn Công D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger