TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 259/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 - 7 - 2024 V/v: “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn” | ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành
Ông Trần Mai Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 240/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 282/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm E, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; địa chỉ cư trú hiện nay: Kummerower R ,12619 B, D, Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1967 và bà Ngô Thị V, sinh năm 1969; cùng địa chỉ: Xóm E, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu Q trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị L trước đây là vợ chồng và có 03 con chung. Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 17/2017/QÐST-HNGĐ ngày 02/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Giao cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2012 và cháu Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2012 cho chị Nguyễn Thị L nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2011 cho anh nuôi dưỡng.
Vì điều kiện kinh tế khó khăn anh phải đi xa làm việc để có tiền trang trải cho cuộc sống, bố mẹ của anh đã già yếu không đủ điều kiện để chăm sóc cho cháu Nguyễn Hữu T2. Hơn nữa, kể từ khi có quyết định của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thì cháu Nguyễn Hữu T2 vẫn đang ở cùng với ông bà ngoại của cháu là ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1967 và bà Ngô Thị V, sinh năm 1969 cùng địa chỉ cư trú: Xóm E, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Để đảm bảo cuộc sống của cháu được ổn định về mọi mặt, anh đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Hữu T2 cho chị Nguyễn Thị L nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh và chị L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai, đơn xin giải quyết vắng mặt, giấy ủy quyền (có chứng thực của Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đức) bị đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Hữu Q trước đây là vợ chồng và có 03 con chung. Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 17/2017/QÐST-HNGĐ ngày 02/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Giao cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2012 và cháu Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2012 cho chị nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2011 cho anh Nguyễn Hữu Q nuôi dưỡng.
Tuy nhiên, anh Q thường xuyên đi làm ăn xa, thu nhập không ổn định, bố mẹ anh Q già yếu không chăm sóc được cho cháu T2. Chị hiện tại lao động tại Cộng hòa liên bang Đ có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu T2. Hơn nữa từ khi vợ chồng ly hôn cháu T2 vẫn ở cùng với bố mẹ đẻ của chị (ông bà ngoại của cháu T2) là ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1967 và bà Ngô Thị V, sinh năm 1969 cùng địa chỉ cư trú: Xóm E, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Hiện nay anh Q khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là giao cháu Nguyễn Hữu T2 cho chị nuôi dưỡng. Để đảm bảo ổn định cuộc sống của cháu T2 về mọi mặt, chị đồng ý nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hữu T2. Trong thời gian chị đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đức chị nhờ bố mẹ đẻ chị là ông Nguyễn Bá N và bà Ngô Thị V chăm sóc và nuôi dưỡng cháu T2 cho đến khi chị trở về Việt Nam. Về cấp dưỡng nuôi con chị và anh Q tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Nguyễn Hữu T2 trình bày: Cháu là con của bố Nguyễn Hữu Q và mẹ Nguyễn Thị L. Hiện nay cháu đang ở cùng với ông bà ngoại, cháu có nguyện vọng được ở với Nguyễn Thị L. Hiện nay mẹ cháu đang ở nước ngoài nên cháu muốn tiếp tục ở cùng với ông bà ngoại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bá N, bà Ngô Thị V trình bày: Ông bà là bố mẹ của chị Nguyễn Thị L, chị L và anh Q trước đây là vợ chồng và có 03 người con như trình bày của chị L và anh Q. Cháu Nguyễn Hữu T2 ở với ông bà kể từ khi chị L và anh Q ly hôn. Nay anh Q yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi T2 mà Tòa án chấp nhận giao cháu T2 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì điều kiện chị L đang ở Cộng hòa liên bang Đ không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2, chị L nhờ vợ chồng ông bà chăm sóc cháu T2 trong thời gian chị L ở Đức thì vợ chồng ông bà đồng ý quản lý, chăm sóc cháu T2 cho đến khi chị L trở về Việt Nam. Đồng thời vợ chồng ông N, bà V không yêu cầu anh Q, chị L phải thanh toán các khoản chi phí mà ông, bà chăm sóc cháu từ trước đến nay và cả sau này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án không có tranh chấp và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị L hiện đang ở Cộng hòa liên bang Đ trước khi xuất cảnh chị L có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu Q; bị đơn chị Nguyễn Thị L; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bá N, bà Ngô Thị V vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
Tại phiên tòa mặc dù anh Nguyễn Hữu Q vắng mặt, nhưng vẫn giữ nội dung khởi kiện của mình, yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hữu T2. Xét thấy anh Nguyễn Hữu Q, chị Nguyễn Thị L trước đây là vợ chồng, có ba con chung. Tại quyết định số 17/2017/QÐST-HNGĐ ngày 02/02/2017 về công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Về con chung Tòa án quyết định giao 02 con chung Nguyễn Hữu T, sinh ngày 22/11/2012 và cháu Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 21/11/2012 cho chị Nguyễn Thị L nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 21/4/2011 cho anh Nguyễn Hữu Q nuôi dưỡng.
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là quyền và cũng là nghĩa vụ của vợ chồng sau khi ly hôn. Nay cả anh Q và chị L đều xác định, anh Q nghề nghiệp không ổn định, thường xuyên đi làm ăn xa nhà, nên không thể đảm bảo quyền quyền lợi ích cho con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cho cháu Nguyễn Hữu T2 phát triển tốt, do đó cần chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hữu Q, giao con chung cháu Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 21/4/2011 cho chị Nguyễn Thị L nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét, do các bên chưa có yêu cầu. Dành quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên cho các bên khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về việc quản lý, chăm sóc con chung: Vợ chồng ông Nguyễn Bá N, bà Ngô Thị V là người trực tiếp quản lý, chăm sóc cháu Nguyễn Hữu T2 trong thời gian từ khi vợ chồng anh Q, chị L ly hôn cho đến nay. Tuy nhiên, ông N và bà V không yêu cầu anh Q, chị L phải thanh toán các khoản chi phí chăm sóc cháu và tự nguyện cam kết tiếp tục nhận chăm sóc, quản lý cháu trong thời gian chị L chưa về nước, nên cần chấp nhận.
[3] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hữu Q. Tuyên xử:
- Giao con chung cháu Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 21/4/2011 cho chị Nguyễn Thị L nuôi dưỡng.
Chấp nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông Nguyễn Bá N và bà Ngô Thị V nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc cháu Nguyễn Hữu T2 trong thời gian chị Nguyễn Thị L chưa về nước.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét do các bên chưa có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Nguyễn Hữu Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013039 ngày 17 tháng 7 năm 2024.
- Anh Nguyễn Hữu Q, ông Nguyễn Bá N và bà Ngô Thị V có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Hải |
Bản án số 259/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn
- Số bản án: 259/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thay đổi nuôi con Q, L
