Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 259/2024/HS-ST

Ngày: 28/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh;
  • Bà Thiều Thị Phi Loan;
  • Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 232/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2024/QĐXXST-HS ngày 07/5/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 408/2024/TB – TA ngày 16/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tạ Xuân Đ, sinh năm 1995 tại Đồng Nai, Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Số B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Chức vụ, Đảng phái, Đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Tạ Xuân Đ1 (đã chết) và bà Tiêu Thị N, sinh năm 1958; bị cáo là con duy nhất trong gia đình, chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

- Người đại diện của bị hại: Anh Trương Hoàng T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần Á.

Địa chỉ: Số F, đường N, phường A, quận E, TP

Đại diện theo pháp luật: Ông Tạ Long H - Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy L, sinh năm 1983 – Cán bộ pháp chế của Công ty.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tạ Xuân Đ có giấy phép lái xe hạng B2 là nhân viên lái xe của Công ty Cổ phần Á (V) theo hợp đồng lao động số 1169.2023/HD-HTKD ngày 04/07/2023. Khoảng 11 giờ 00 ngày 03/9/2023, Đ điều khiển xe ô tô loại 07 chỗ ngồi biển số 51F-927.15 (Thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần Á) lưu thông trên đường N, phường L, thành phố B hướng từ Văn phòng khu phố B, phường L đi Quốc lộ A. Khi đến đoạn thuộc tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B. Lúc này có ông Nguyễn Kim T1 (sinh năm 1961, ngụ tại: 6, tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B) đang đi bộ phía trước cùng chiều gần lề phải. Do Đ tập trung quan sát về phía bên trái để tránh va chạm với xe đi ngược chiều, không chú ý quan sát về phía trước đầu xe nên để đầu xe bên phải do Đ điều khiển đụng vào người ông T1 làm ông T1 ngã xuống đường gây tai nạn giao thông. Hậu quả: ông T1 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong tại Bệnh viện C, thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình điều tra bị cáo đã nhận tội theo như nội dung cáo trạng mô tả.

* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông ngày 03/9/2023 của Công an thành phố B, đã xác định (tất cả các dấu vết, kích thước đều được thu thập và đo vào mép đường bên phải đường F, tổ A, khu phố B, phường L theo hướng từ Văn phòng khu phố B, phường L đi Quốc lộ A làm chuẩn – gọi tắt là lề phải. Trụ đèn 126 trên lề trái làm mốc) như sau:

(01) là xe ô tô biển số 51F-927.15 dừng trên mặt đường đầu hướng Quốc lộ A, đuôi hướng đi Văn phòng khu phố 2. T2 trục bánh trước cách lề phải 01m10, tâm trục bánh sau bên phải cách lề phải là 01m00. Trục bánh trước bên trái cách điểm mốc 20m50.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 390/KLGĐTT-TTPYÊN ngày 18/9/2023 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Kim T1 là do: Chấn thương sọ gây nứt sọ đỉnh phải, chảy máu nội sọ.

Kết luận khác:

  • Nồng độ cồn và các chất ma tuý trong máu: Không tìm thấy cồn và các chất ma tuý nêu trên.

* Tại bản kết luận giám định số 2012/KLGĐ-PC09 ngày 05/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận chiều hướng dấu vết va chạm giữa xe ô tô 51F-927.15 và nạn nhân Nguyễn Kim T1 như sau: “Phía trước bên phải xe ô tô biển số: 51F-927.15 (dấu vết trượt xước, nứt gãy cản trước bên phải) có chiều từ trước ra sau; phù hợp với va chạm vật tày (dạng mềm)”.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho chủ sở hữu:

  • 01 xe ôtô biển số 51F-927.15 của Công ty Cổ phần Á.
  • 01 Giấy phép lái xe hạng B2 của bị cáo Tạ Xuân Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Tạ Xuân ĐCông ty Cổ phần Á đã bồi thường chi phí mai táng và các khoản chi phí khác cho gia đình bị hại số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), đại diện hợp pháp của bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 249/CT-VKSBH ngày 22/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Tạ Xuân Đ về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự; tuyên bố bị cáo Tạ Xuân Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng đến 16 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự các bên đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Bị cáo nói lời sau cùng: Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định pháp luật.

Đại diện hợp pháp của bị hại anh Trương Hoàng T có đơn xin xét xử vắng mặt; không có yêu cầu về phần dân sự, đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ, xét sự vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử; do đó Tòa án xét xử vắng mặt người đại diện bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà, đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện bị đơn dân sự, biên bản khám nghiện hiện trường, sơ đồ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh hiện trường và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở xác định:

Khoảng 11 giờ 00 ngày 03/9/2023, tại đường N, đoạn thuộc tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tạ Xuân Đ có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 51F-927.15 không chú ý quan sát phía trước nên để để đầu xe bên phải do Đ điều khiển đụng vào người ông Nguyễn Kim T1 làm ông T1 ngã xuống đường gây tai nạn giao thông. Hậu quả: ông T1 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong tại Bệnh viện C.

[3] Như vậy, hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, làm chết 01 người đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như nội dung bản cáo trạng số 249/CT-VKSBH ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật; bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng con người được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xướng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau tai nạn, bị cáo đã tích cực cùng với Công ty Cổ phần Á bồi thường trách nhiệm dân sự, được gia đình bị hại làm đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật và cũng để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã:

  • Trả lại 01 xe ôtô biển số 51F-927.15 cho chủ sở hữu là Công ty Cổ phần Á là phù hợp quy định của pháp luật.
  • Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Tạ Xuân Đ là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[9] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Xuân Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tạ Xuân Đ 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, đại diện bị đơn dân sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa (2);
  • - Công an TP. Biên Hòa (1);
  • - Thi hành án hình sự (5);
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Chi cục THA TP. Biên Hoà (1);
  • - UBND xã phường nơi cư trú (1);
  • - Bị cáo, đương sự (3);
  • - Lưu VP - Hồ sơ vụ án (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 259/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 259/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Xuân Đông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger