|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 259/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-09-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung.
- Ông Ngô Văn Nghị.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây sơn tham gia phiên toà: Bà Bùi Kim Châu Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 09 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 09 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thanh P, sinh năm 1989 (có đơn vắng mặt).
Trú tại: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định. - Bị đơn: Anh Trần Vũ B, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Trú tại: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như trong đơn vắng mặt công bố tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là chị Phan Thị Thanh P trình bày:
Chị và anh Trần Vũ B quen biết nhau từ năm 2021, do tự tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Được gia đình hai chấp nhận nên tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 27/09/2022. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc trong thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra việc cãi nhau. Ngoài ra, anh B nhiều lần vay mượn tiền, nợ nần riêng bên ngoài dẫn đến không có khả năng trả nợ, chị đã trả nợ cho anh B nhiều lần nhưng vẫn tánh nào tật nấy, anh B đã bỏ nhà đi, bỏ mặc tình cảm vợ chồng. Vợ chồng ly thân từ tháng 03 năm 2023 cho đến nay, không còn quan tâm lo lắng gì cho nhau, phần ai nấy sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn thương yêu nhau nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Vũ B.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên không yêu cầu Toà giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn anh Trần Vũ B vắng mặt không có lý do. Anh B đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.
Tại Biên bản xác minh do Công an xã T, huyện T cung cấp: anh Trần Vũ B đăng ký hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định. Hiện nay anh B không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì thì địa phương không rõ.
* Trong đơn vắng mặt, chị Phan Thị Thanh P vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng Dân sự;
Về nội dung giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Thanh P được ly hôn anh Trần Vũ B; Về con chung: vợ chồng chưa có con chung nên miễn xét; Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét; Về án phí giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Anh Trần Vũ B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do; Chị Phan Thị Thanh P có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thanh P và anh Trần Vũ B có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 27/09/2022 đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống trong thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra việc kình cãi nhau. Ngoài ra, anh B tự ý nhiều lần vay mượn tiền, nợ nần riêng bên ngoài dẫn đến không có khả năng trả nợ, từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, anh B đã bỏ nhà đi khỏi địa phương. Vợ chồng ly thân từ tháng 03 năm 2023 cho đến nay, anh B lại bỏ mặc, không quan tâm nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, khi chị P gửi đơn khởi kiện ly hôn, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh B không đến Tòa, vẫn bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của mình. Việc chị P yêu cầu ly hôn với anh B là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên miễn xét.
- Về tài sản chung: Chị Phan Thị Thanh P không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phan Thị Thanh P phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003507 vào ngày 06/02/2024 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn thu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 8, 9, 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thanh P được ly hôn anh Trần Vũ B.
- Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên miễn xét.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phan Thị Thanh P phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003507 vào ngày 06/02/2024 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn thu. Chị P đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao nhận hoặc được niêm yết theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Thành Trọng |
Bản án số 259/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 259/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn Phan Thị Thanh P và Trần Vũ B
