|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 259/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/7/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Ông Trần Văn Chánh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 267/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 276/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1978.
- Địa chỉ: C, tổ B, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn: Ông Đoàn Minh C, sinh năm 1975.
- Địa chỉ: C, tổ B, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- (Bà L có đơn xin giải quyết vắng mặt, ông C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đoàn Minh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân xã P, huyện L (nay là phường P, thành phố B), tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35/KH ngày 18/7/2005. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông C, mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn, mục đích hôn nhân không còn nên bà vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.
Về con chung: Quá trình chung sống bà L, ông C có 02 con chung là cháu Đoàn Minh T, sinh năm 2005 và cháu Đoàn Trần Như Q, sinh ngày 26/11/2006. Ly hôn, cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Q. Tạm thời không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà xin xét xử vắng mặt do bận công việc.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đoàn Minh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, không đến Toà án để tham gia tố tụng.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị L. Cho bà L ly hôn với ông C.
Về con chung: Giao cháu Đ Trần Như Q cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu T đã trưởng thành, bà L không yêu cầu xem xét giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Bà L khai tự thỏa thuận, chưa lấy được ý kiến của ông C nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà L khai không có, chưa lấy được ý kiến của ông C nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Trần Thị L xin ly hôn với ông Đoàn Minh C. Căn cứ vào kết quả xác minh ngày 27/3/2024 do Công an phường P, thành phố B cung cấp thể hiện ông C có nơi cư trú tại khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông C nhưng ông C không đến Toà án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên toà xét xử mà không có lý do; Nguyên đơn bà L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà L, ông C.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện L (nay là UBND phường P, thành phố B), tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35/KH ngày 18/7/2005 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Theo trình bày của bà L thì sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng đều không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ, bà L xin được ly hôn với ông C. Toà án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L với ông C. Tại biên bản xác minh ngày 27 tháng 3 năm 2024, địa phương không cung cấp được thông tin mâu thuẫn vợ chồng do bà L ông C không trình báo với địa phương.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông C nhưng ông C vẫn không có ý kiến chứng tỏ ông C bỏ mặc, không mong muốn bảo vệ và duy trì hôn nhân với bà L. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L, ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Ông C không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, nay bà L xin ly hôn với ông C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Quá trình chung sống bà L, ông C có 02 con chung là cháu Đoàn Minh T, sinh năm 2005 và cháu Đoàn Trần Như Q, sinh ngày 26/11/2006. Ly hôn, cháu T đã trưởng thành, có khả năng lao động nên bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Q. Tạm thời không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Q đã trên 07 tuổi, qua tham khảo ý kiến của cháu thì cháu có nguyện vọng được sống chung với bà L, được bà L trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định, tôn trọng nguyện vọng của cháu nên chấp nhận yêu cầu của bà L, giao cháu Q cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Do bà L không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung, nên tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông C thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Bà L trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của ông C nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Bà L trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của ông C nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Bà Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
- - Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị L, cho bà Trần Thị L được ly hôn với ông Đoàn Minh C.
- Về con chung: Giao cháu Đ Trần Như Q, sinh năm 2006 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung : Không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai số 0002242 ngày 17/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà (Bà L đã nộp xong).
- Bà Trần Thị L và ông Đoàn Minh C được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Ông C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông C thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Nơi nhận:
- - VKSND thành phố Biên hòa;
- - THADS thành phố Biên Hòa;
- - Các đương sự;
- - UBND phường Phước Tân;
- - Lưu;
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Trúc Thuỷ |
Bản án số 259/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 259/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà L và ông C ly hôn tranh chấp nuôi con
