|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 259/2024/HNGĐ-ST Ngày 25-4-2024 V/v ly hôn Hộ – Hiền |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Văn Phương và bà Nguyễn Thị Kim Chi
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 503/2023/TLST- HNGĐ, ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 94/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ H, ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, xin vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Thạch Thị H1, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ H, ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo khởi kiện ngày 30/6/2023 và lời khai của nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H trình bày: Sau khi tìm hiểu, được gia đình đồng ý, anh Nguyễn Ngọc H và chị Thạch Thị H1 tổ chức lễ cưới và đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh An Giang ngày 13 tháng 9 năm 2016. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi và chị H1 có quan hệ bất chính với người thứ ba nên tháng 12/2022 anh H làm đơn ly hôn. Toà án động viên hàn gắn chị H1 hứa với anh H sẽ sửa đổi nên anh H rút đơn ly hôn. Nhưng từ khi anh H rút đơn ly hôn đến nay chị H1 lại bỏ nhà ra đi, không một lần liên lạc hay về thăm anh và các con. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, anh xin ly hôn chị H1.
Anh và chị H1 có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc Tố Q, sinh ngày 15/8/2016; Nguyễn Ngọc Gia M, sinh ngày 02/7/2018 và Nguyễn Ngọc Gia P, sinh ngày 10/7/2020, hiện đang sống cùng anh H. Khi ly hôn anh H yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con.
Anh và chị H1 không có tài sản chung, nợ chung
Bị đơn chị Thạch Thị H1 vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do cho thấy bị đơn không chấp hành đúng quy định Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, anh Nguyễn Ngọc H được ly hôn chị Thạch Thị H1. Anh H và chị H1 có 03 con chung, giao anh H được tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung. Anh H không yêu cầu nên chị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh H và chị H1 không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết. Anh H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại xã B, huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Anh H và chị H1 tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 84 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 13/9/2016 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Mâu thuẫn giữa anh H và chị H1 kéo dài nhiều năm, mặc dù đã được hàn gắn nhưng vẫn không chung sống với nhau. Anh đã vi phạm nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, chung thuỷ với nhau theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên anh H yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
[2.2] Về nuôi con chung: Anh H và chị H1 có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc Tố Q, sinh ngày 15/8/2016; Nguyễn Ngọc Gia M, sinh ngày 02/7/2018 và Nguyễn Ngọc Gia P, sinh ngày 10/7/2020. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay anh H là người trực tiếp nuôi con, để ổn định cuộc sống của các cháu nên Hội đồng xét xử giao 03 con chung cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu nên không buộc chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh H trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Anh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 322 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H.
1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc H được ly hôn chị Thạch Thị H1.
2. Về con chung: Anh H và chị H1 có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc Tố Q, sinh ngày 15/8/2016; Nguyễn Ngọc Gia M, sinh ngày 02/7/2018 và Nguyễn Ngọc Gia P, sinh ngày 10/7/2020, hiện đang sống cùng anh H. Giao 03 con chung cho anh H được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu nên không buộc chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh H và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho chị H1 đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở chị H1 thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
3. Về tài sản chung: Không
4. Về nợ: Ghi nhận anh H trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006391 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Chị H1 không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS huyện Phú Tân; - UBND xã Bình Thạnh Đông; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Rỡ |
Bản án số 259/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 259/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H xin ly hôn H1
