Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 259/2024/HS-PT

Ngày: 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ

Ông Phạm Minh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 218/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D. Do có kháng cáo của các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2024/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Tiêu Phước T (tên gọi khác: Tính C), sinh năm: 2002, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tiêu Phước T1, sinh năm: 1978 và con bà Đỗ Tuyết N, sinh năm: 1984; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: không; Nhân thân: ngày 15/4/2021 bị Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 77/QĐ-XPHC, về hành vi đánh bạc số tiền phạt là 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 23/4/2021; tạm giữ: không; tạm giam: 11/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Khánh D (tên gọi khác: không), sinh năm: 2003, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm: 1977 và con bà Hồ Ngọc G, sinh năm: 1981; Anh chị em: có 02 người, bị cáo là con đầu lòng; Vợ, con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ: không; tạm giam: 06/12/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh D theo yêu cầu: Luật sư Nguyễn Thị Thanh T2 – Văn phòng L1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Trong vụ án còn có các bị cáo Huỳnh Thanh Q và Huỳnh Văn B; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; các bị cáo Nguyễn Thanh T3 và Nguyễn Thành Đ có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 05/7/2023, Nguyễn Thanh T3 điều khiển xe mô tô loại Future màu trắng, biển số 66B1-874.48 chở Tiêu Phước T (Tính còi) đến nhà Huỳnh Chí L (L) cư trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để tổ chức uống rượu. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày T nhớ lại mâu thuẫn với Đỗ Thanh Minh T4 (tên thường gọi là T5 nhỏ, T) nhà ở khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và biết T4 thường đi chơi ở khóm P, thị trấn T, huyện T nên T đã rủ T3 cùng với T đi tìm T4 đánh để giải quyết mâu thuẫn. Thoãng thống nhất và liền khi đó T điện thoại rủ Nguyễn Thành Đ cùng đi đánh nhau, Đ nhận lời đồng thời điện rủ Nguyễn Khánh D cùng tham gia và trực tiếp Đ điều khiển xe mô tô loại Exciter 150 màu xanh chở D đi theo hướng thị trấn T.

Về phía Thoãng thì điện thoại cho Huỳnh Văn B rủ tham gia đi đánh nhau, B đồng ý và B trực tiếp điều khiển xe mô tô loại Sirius màu đỏ - đen, biển số 66B1-478.51 đến thị trấn T để cùng với T3 tham gia đánh nhau.

Sau khi điện cho những đối tượng trên xong, T3 điều khiển xe mô tô chở T đến khu vực cách cầu C khoảng 100m đoạn thuộc thị trấn T để đón Đ. Tại đây, T3 và T thấy có nhóm thanh niên khoảng 7-8 người đi trên 3-4 xe mô tô, chạy cách nhau khoảng 100m trong đó có T5 vẩy tay kêu T3 chạy theo, sau đó T3 thấy Đ chở D chạy đến. Lúc này D điện thoại rủ thêm Huỳnh Thanh Q cùng tham gia, thì Q đồng ý, đồng thời Q rủ thêm H (không xác định được lai lịch cụ thể) lúc đó H đang có mặt tại nhà Q, sau khi được Q rủ, H đồng ý và lên xe mô tô Future biển số 66B1-640.80 để Q chở đến ngã tư T, đến đây Q đổi cho H điều khiển xe chở Q chạy đến nơi tập trung gần cầu P thuộc khóm P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Tính, T3, D, Đ, Q, B chạy xe đến khu vực cầu P thì gặp nhóm thanh niên khoảng 20 đến 30 người cầm dao phóng lợn và dao tự chế đợi sẵn, các bị cáo biết những người này là cùng bọn với mình, nhưng không biết cụ thể do ai điện kêu tới. Lúc đó trong nhóm thanh niên có người đã đưa cho D 01 con dao tự chế dài khoảng 30cm và đưa cho Q 01 cây dao tự chế dài khoảng 40cm để bị cáo D và bị cáo Q cầm trên tay đi đánh nhau, B thì kêu một thanh niên có cầm dao tự chế lên xe của B để B chở đi.

Sau đó Đ và D cùng nhóm khoảng 10 thanh niên đi trên 6-7 xe chạy trước khi đến tiệm sơn xe không bảng hiệu, chủ tiệm là Nguyễn Hoàng D1 ngụ tại ngã tư P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, Đ và những người cùng đi phát hiện Đỗ Thanh M1 T4 đang ngồi trong tiệm sơn của anh Hoàng D1, lúc đó có một người trong nhóm la lên “nó kìa” vì biết những người kia tìm đánh mình nên T4 hoảng sợ bỏ chạy. Lúc đó nhóm của Đ, D1 đã chạy qua T6 sơn nghe thấy nên quay xe trở lại cầm dao đuổi đánh T4, lúc này nhóm thanh niên đi sau cũng vừa tới, tất cả dừng xe lại xuống xe rồi kết hợp với nhóm đi đầu rượt đuổi T4, nhưng T4 chạy thoát không đánh được. Thời điểm đó có khoảng 15 -20 xe mô tô và tổng số trên 30 đối tượng chạy xe trở ra Quốc lộ C nẹt pô, la ó trên đường, đậu xe ở khu vực giữa ngã tư gây ùn tắc giao thông khoảng 05 phút. Những người trực tiếp đuổi đánh T4 gồm: Tiêu Phước T, Nguyễn Thanh T3, Huỳnh Văn B (tay không cầm hung khí) Đ và D1, Q thì cầm hung khí trên tay.

Sự việc xảy ra đã được Công an huyện phát hiện, quá trình Điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, nhưng không khai ra những người cùng tham gia khác.

Tại văn bản số 184/ĐN-UBND thị trấn T xác định vụ việc diễn ra vào ngày 05/7/2023 gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, đề nghị xử lý nghiêm minh.

Quá trình Điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Tiêu Phước T, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Khánh D, Nguyễn Thành Đ, Huỳnh Thanh Q, Huỳnh Văn B thừa nhận đã tham gia với nhiều thanh niên khác khoảng trên 30 người chạy xe mô tô trên đường nẹt bô, la ó đi tìm đánh Đỗ Thanh M1 Tân gây mất trật tự trị an khu vực khóm P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Tuy nhiên các bị cáo còn quanh co che giấu không khai ra các đối tượng có liên quan cùng tham gia, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố xét xử.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2024/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D cùng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS.

Xử phạt bị cáo Tiêu Phước T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/03/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS.

Xử phạt Nguyễn Khánh D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/12/2023.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh T3 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Nguyễn Thành Đ 02 (hai) năm 03 (ba), bị cáo Huỳnh Thanh Q 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù và bị cáo Huỳnh Văn B 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cùng về tội “Gấy rối trật tự công cộng”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng bị cáo T không cung cấp được tình tiết gì mới còn bị cáo D có cung cấp các chứng cứ mới như bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật ở địa phương, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác, qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án, xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại các phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T và áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo D, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo T và D, giảm nhẹ cho các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D mỗi bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh D phát biểu quan điểm: Thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo D. Vị luật sư cũng viện dẫn về nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo D và cho rằng bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ lam lũ làm ăn nên không có thời gian quan tâm chăm lo, giáo dục bị cáo. Do tuổi trẻ bồng bột, hiếu thắng, ham chơi mà khi Đ rủ thì D tham gia chứ D không biết cũng như không có mâu thuẩn gì với T4. Đồng thời, vị luật sư cũng nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như trong quá trình điều tra và tại các phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoàn 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sửa án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo D, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D.

Các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D không tranh luận. Bị cáo D không bào chữa bổ sung. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo đồng phạm, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 13 giờ ngày 05/7/2023, trong lúc cùng uống rượu tại nhà Huỳnh Chí L thì T nhớ lại mâu thuẫn với Đỗ Thanh M1 Tân trước đó, nên T đã rủ T3 cùng đi tìm T4 đánh trả thù. Thoãng đồng ý rồi điện thoại rủ Nguyễn Thành Đ và Đ rủ thêm Nguyễn Khánh D. Sau đó, D điện cho Huỳnh Thanh Q, còn T3 thì điện rủ Huỳnh Văn B cùng tham gia. Sau khi tiếp nhận thông tin trên thì các bị cáo thống nhất thực hiện. Ngoài ra còn nhiều thanh niên khác khoảng trên 30 người hiện không xác định tên tuổi cụ thể, tất cả đi trên khoảng 15-20 xe mô tô các loại, có mang theo hung khí là dao tự chế, dao phóng lợn. Tất cả chạy xe chở nhau tập trung tại khu vực gần cầu P, thị trấn T, sau đó chia thành 02 nhóm gồm Tính, T3, D, Đ, Q và B cùng số thanh niên khác khoảng 10 người chạy trước tìm T4. Sau đó, Đ và những người cùng đi phát hiện T4, T4 quá hoảng sợ nên đã bỏ chạy, nhóm Đ, D nghe thấy nên đã quay xe trở lại để đuổi đánh T4. Khi đó nhóm thanh niên đi sau khoảng 20 người cũng vừa tới, tất cả dừng xe lại xuống xe rồi kết hợp với nhóm đi đầu rượt đuổi T4; thời điểm đó có khoảng 15 đến 20 xe của các đối tượng nẹt pô, la ó trên đường, đậu xe ở khu vực giữa ngã tư gây ùng tắc giao thông khoảng 05 phút.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo Tiêu Phước T, Nguyễn Khánh D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn, trật tự công cộng một cách trái pháp luật. Các bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo Tiêu Phước T đã cùng với các bị cáo đồng phạm rượt đuổi, nẹt pô, la ó trên đường, đậu xe ở khu vực giữa ngã tư ở Q gây ùng tắc giao thông, gây náo động nơi xảy ra sự việc đã xâm phạm nghiêm trọng trật tự công cộng. Các bị cáo nhận thức được việc thực hiện các hành vi nêu trên là xâm phạm an toàn, trật tự công cộng nhưng các bị cáo vẫn thực hiện, chứng tỏ việc phạm tội của các bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D cùng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng bị cáo T không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới còn bị cáo D có cung cấp chứng cứ mới là xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật ở địa phương, bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, tuy các bị cáo T và D không khai ra các đối tượng có liên quan cùng tham gia nhưng các bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình là đã tham gia với nhiều thanh niên khác khoảng trên 30 người chạy xe mô tô trên đường nẹt bô, la ó đi tìm đánh Đỗ Thanh M1 Tân gây mất trật tự trị an khu vực khóm P, thị trấn T, huyện T. Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Án sơ thẩm nhận định các bị cáo còn quanh co che giấu không khai ra các đối tượng có liên quan cùng tham gia, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và không xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ nêu trên đối với các bị cáo là chưa phù hợp. Do đó, cần phải áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T và áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo D, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo D tại phiên tòa là phù hợp như đã nhận định ở phần trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D. Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D.

  2. Tuyên bố các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D cùng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt Tiêu Phước T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/03/2024.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt Nguyễn Khánh D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2023.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Các bị cáo Tiêu Phước T và Nguyễn Khánh D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Thanh Bình (04 bản);
  • - VKSND huyện Thanh Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Bình;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Thanh Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA H. Thanh Bình;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo; NBC;
  • - Lưu VT, HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 259/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 259/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger