|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH VĨNH LONG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 259/2024/DS-PT
Ngày: 19-11-2024
V/v “Tranh chấp di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lộc
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Trường
Ông Lâm Triệu Hữu
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Khương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Hào – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 272/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 98/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 306/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
· Nguyên đơn:
- Bà Phạm Thị Đ, sinh năm: 1962.
- Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1955.
- Ông Phạm Văn C, sinh năm: 1965.
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện theo ủy quyền của bà Đ và ông T: Anh Huỳnh Duy K.
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
· Bị đơn: Ông Phạm Văn C1, sinh năm: 1971.
Địa chỉ cư trú: ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn C1: Chị Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1979.
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị A, sinh năm: 1978.
- Ông Nguyễn Văn Đ1 (đã chết).
- Bà Lê Thị N (đã chết).
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1955 (chết 2002 – con ông Đ1, bà N).
- Bà Trần Thị B, sinh năm 1958.
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1979.
- Bà Nguyễn Thị Mộng T2, sinh năm 1980.
- Bà Nguyễn Thị Mộng D, sinh năm 1986.
- Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1963 (chết 2019 – con ông Đ1, bà N).
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1963.
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1984.
- Chị Nguyễn Thị Như N2, sinh năm 1987.
- Chị Nguyễn Thị Bích T4, sinh năm 1989.
- Chị Nguyễn Thị Mộng T5, sinh năm 1991.
- Bà Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1966.
- Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1968.
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Cùng địa chỉ cư trú: ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ1, bà N là:
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N1 là:
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông D1 là:
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Địa chỉ Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Người kháng cáo: Ông Phạm Văn C1 - Là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 18/4/2022, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Đ trình bày:
Bà là con thứ ba của cụ Phạm Thị G và cụ Phạm Văn T7. Cụ G và cụ T7 có tất cả 04 người con gồm:
- Phạm Văn T – sinh năm: 1955
- Phạm Thị Đ – sinh năm: 1962
- Phạm Văn C – sinh năm: 1965.
- Phạm Văn C1 – sinh năm: 1971.
Ngày 28/11/1985 cụ Phạm Văn T7 chết không để lại di chúc.
Ngày 23/02/2022 cụ Phạm Thị G chết không để lại di chúc.
Khi cụ G, cụ T7 chết có để lại tài sản gồm theo kết quả đo đạc là 14.028,8m² gồm các thửa 764, 766, 767, 771, 772, 773, 777, 778 thuộc tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long do bà Phạm Thị G đứng tên quyền sử dụng đất. Trong đó có 3.400m² là do cụ G mua của ông Nguyễn Văn Đ1, khi mua là đất lúa nhưng hiện tại đã là đất vườn.
Phần đất tranh chấp 14.658m² – 589m² (rạch công cộng) = 14.069m² thì khi cụ G còn sống sống chung với ông C1, ông C1 cùng cụ G quản lý canh tác toàn bộ phần đất trên. Năm 2002 cụ G có cho bà 02 công đất (cho miệng chưa làm thủ tục sang tên) bà cất nhà trên đất năm 2002 và sinh sống cho đến nay. Phần còn lại do ông C1 đang quản lý, canh tác.
Trên phần đất 14.069m² có tài sản gồm: Các loại cây trồng trên đất.
Nay bà Đ yêu cầu chia thừa kế là 3.500m²; đối với cây trồng trên đất ai được chia đất thì được sở hữu cây trồng trên đất.
Bà thống nhất kết quả đo đạc và định giá tài sản của Hội đồng do Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thành lập.
* Tại bản khai ý kiến, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Văn T trình bày:
Ông thống nhất theo lời trình bày của bà Đ về mối quan hệ nhân dân về di sản cha mẹ chết để lại. Khi cụ T7 còn sống có chia cho ông một phần đất 3.400m² đất lúa (nay là đất vườn) ông đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khi cha tôi chết, thì mẹ tôi quản lý toàn bộ thửa đất số 14.069m². Cụ G, ông C1, bà Đ cùng cải tạo từ đất lúa lên đất vườn trồng cây trên đất.
Nay tôi yêu cầu chia thừa kế là 3.500m²; đối với cây trồng trên đất ông C1 tự di dời và ông không bồi thường, nếu cây nào di dời không được thì ông thống nhất bồi thường theo giá của Hội đồng định giá.
Ông thống nhất kết quả đo đạc và định giá tài sản của Hội đồng do Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thành lập.
* Tại bản khai ý kiến, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Văn C trình bày:
Ông thống nhất theo lời trình bày của bà Đ về mối quan hệ nhân thân về di sản cha mẹ chết để lại. Khi cụ T7 còn sống có chia cho ông một phần đất 3.400m² đất lúa (nay là đất vườn) ông đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khi cha tôi chết, thì mẹ tôi quản lý toàn bộ thửa đất số 14.658m². Cụ G, ông C1, bà Đ cùng cải tạo từ đất lúa lên đất vườn trồng cây trên đất.
Nay tôi yêu cầu chia cho ông thừa kế là 3.500m2; đối với cây trồng trên đất ông C1 tự di dời và ông không bồi thường, nếu cây nào di dời không được thì ông thống nhất bồi thường theo giá của Hội đồng định giá.
Ông thống nhất kết quả đo đạc và định giá tài sản của Hội đồng do Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thành lập.
Tại đơn xin rút yêu cầu khởi kiện ngày 22/12/2022 (BL 56) ông xin thay đổi yêu cầu khởi kiện là đồng ý giao phần thừa kế của ông để dùng vào việc thờ cúng ông bà, tổ tiên.
* Tại đơn phản tố, bản khai ý kiến, quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn trình bày.
- Theo nội dung khởi kiện của các đồng nguyên đơn cho rằng thửa đất 33 nêu trên là di sản của mẹ tôi để lại khi qua đời là không đúng, vì trong thửa đất 33 đã hợp nhiều thửa 123,116,118,119,124,128, 129 là của mẹ tôi sau khi cho các anh trai Phạm Văn T và Phạm Văn C, phần còn lại mẹ tôi đã làm thủ tục cho tặng qua tôi tổng cộng là 9,860m², trong đó theo di bằng mẹ tôi và các anh chị em đều đồng ý cho chị Phạm Thị Đ canh tác và thừa hưởng 03 liếp trồng dừa có diện tích khoảng 3,000m² cho thu hoạch canh tác đến cuối đời theo di bằng của mẹ tôi để lại.
Đối với phần diện tích thửa 117 nhập vào thửa 33 có diện tích 3,340m² là do tôi nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Đ1 vào năm 1995, khi nhận chuyển nhượng có làm giấy tay mua bán và tôi canh tác từ 1995 đến nay. Đồng thời UBND xã T có làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng lần đầu cho tôi nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần diện tích này không phải là tài sản của mẹ tôi cho tôi.
Nay tôi có ý kiến như sau:
- + Công nhận cho tôi Phạm Văn C1 quyền sử dụng đất thửa 33, tờ bản đồ 29, diện tích đo đạc thực tế 14.069m², loại đất ONT +LNQ, tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, vì mẹ tôi đã làm thủ tục cho tặng tôi vào năm 2012. Đến năm 2017 đã được UBND xã T chứng nhận hợp đồng tặng cho của mẹ tôi, đồng thời trên bản đồ địa chính đã thể hiện tôi Phạm Văn C1 đứng tên thửa đất 33, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- + Phần diện tích 3,340m², thuộc thửa 33 là do tôi nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Đ1 và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu và nhập vào thửa 33 nói trên không phải di sản của mẹ tôi, tôi yêu cầu công nhận đây là tài sản riêng của tôi.
- + Tôi không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Đ, ông T và ông C.
Tôi thống nhất kết quả đo đạc và định giá tài sản của Hội đồng do Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thành lập.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long đã xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ.
Chia cho bà Đ phần đất thuộc tách thửa 33-4, diện tích 896m², loại đất ONT + CLN, tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long gồm các mốc i,12,a,16,d,l, i. Bà Đ được sở hữu đối với toàn bộ cây trồng trên tách thửa 33-4, diện tích 896m².
Buộc ông C1 trả giá trị đất phần chênh lệch cho bà Đ là 109.400.000₫ (một trăm lẽ chín triệu bốn trăm ngàn đồng).
Dành riêng cho bà Đ một lối đi có diện tích 239,6m², thuộc tách thửa 33-4, tọa lạc tại cấp C, xã T, huyện V gồm các mốc a', 6,7,8,9,10,11, h',i,j', g', f, 37, e', d', c', 33,b, a'.
Bà Đ được sở hữu các loại cây trồng trên phần đất được chia diện tích 896m²; Bà Đ được sở hữu cây trồng trên phần lối đi diện tích 239,6m2; Bà Đ được sở hữu cây trồng trên phần rạch công cộng diện tích 589m² (gồm các mốc 12,13,14,15,16,17,18,19,l', d,16,a,12). Bà Đ không phải trả giá trị cây trồng cho ông C1.
(Kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất).
2/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn T.
Chia cho ông T phần đất diện tích 1.413m², thuộc tách thửa 33-1 + 33-2, loại đất LUA + CLN; tọa lạc tại cấp C, xã T, huyện V gồm các mốc 1,2,3, x', 29,1.
Ông T có nghĩa vụ trả giá trị cây trồng cho ông C1 trên phần đất diện tích 1.413m² với số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).
(Kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất).
3/ Chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C.
Bà Đ, ông T, ông C và ông C1 được đứng tên chung đối với phần đất dùng vào việc thờ cúng có diện tích 1.410,2m², thuộc tách thửa 42-1 + 42-2 + 33-6 + 33-5 + 33-7; loại đất LUA + NTD, tọa lạc ấp C, xã T, huyện V gồm các mốc 29,j,g,h,i,24,25,26,27,28,29.
Ông C1 được tiếp tục sở hữu cây trồng đang tồn tại trên phần đất 1.410,2m² dùng vào việc thờ cúng.
(Kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất).
4/ Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
5/ Đối với phần đất thuộc rạch công cộng diện tích 589m² gồm các mốc 12,13,14,15,16,17,18,19,l', d,16,a,12. Hội đồng xét xử không xem xét.
(Kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí sơ thẩm, về nghĩa vụ trả lãi do chậm thi hành án và về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/8/2024 ông C1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm chị Nguyễn Minh T1 đại diện cho ông Phạm Văn C1 trình bày giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Ngoài ra chị T1 còn trình bày quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm ông Phạm Văn C1 có đơn phản tố yêu cầu công nhận cho ông C1 quyền sử dụng đất thửa 33, tờ bản đồ 28, diện tích 14.028,8m², loại đất ONT + LNQ, tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; yêu cầu công nhận 3,340m² đất thuộc thửa 33 là tài sản riêng của ông C1 nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét giải quyết và ngày 22/12/2022 ông Phạm Văn C rút đơn khởi kiện cũng không được cấp sơ thẩm xem xét. Do đó án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
Bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Văn T có anh Huỳnh Duy K làm đại diện không đồng ý với kháng cáo của ông Phạm Văn C1. Yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị A thống nhất với ý kiến của ông Phạm Văn C1.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy án sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, áp dụng pháp luật chưa đúng dẫn đến việc giải quyết vụ án chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử lại sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật. Do hủy án sơ thẩm nên ông C1 không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án ngày 30/7/2024. Ngày 13/8/2024 ông Phạm Văn C1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Xét đơn kháng cáo của ông C1 còn trong hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
Ông Phạm Văn C đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt không liên quan đến kháng cáo. Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của ông Phạm Văn C1 Hội đồng xét xử nhận thấy:
Cụ Phạm Văn T7 và cụ Phạm Thị G có 04 người con gồm: Phạm Thị Đ, Phạm Văn T, Phạm Văn C và Phạm Văn C1. Cụ Phạm Văn T7 (chết năm 1985) không để lại di chúc và cụ Phạm Thị G (chết năm 2022) không để lại di chúc.
Sau khi cụ T7 chết cụ G có tiến hành chia đất cho con là ông T và ông C. Phần đất còn lại cụ G đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1992 gồm các thửa đất như sau:
- + Thửa số 764 (thửa mới 116) diện tích 410 m², loại đất lâu năm
- + Thửa 766 (thửa mới 118) diện tích 180 m², loại đất lúa
- + Thửa 767 (Thửa mới 124) diện tích 310 m², loại đất lát
- + Thửa 771 (thửa mới 129) diện tích 500 m², loại đất lát
- + Thửa 772 (thửa mới 128) diện tích 540 m², loại đất lúa
- + Thửa 773 (thửa mới 123) diện tích 5.800 m², loại đất thổ quả
- + Thửa 777 (thửa mới 119) diện tích 2.120 m², loại đất lúa
- + Thửa 778 (thửa mới 120) diện tích 270 m², loại đất nghĩa địa. Tổng diện tích là 10.130m².
Tất cả các thửa đất tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long đều do cụ G và ông C1 quản lý sử dụng từ trước đến nay.
Năm 2012 đo đạc theo dự án VLAP cụ G kê khai thành thửa đất số 33 diện tích 14.069m² bao gồm đất cụ G đứng tên quyền sử dụng đất và phần đất chuyển nhượng của ông Đ1.
Ngày 13/6/2017 cụ G lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa số 33, tờ bản đồ số 29, diện tích 10.130 m², tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long cho ông C1 có chứng thực của UBND xã T nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cấp sơ thẩm không thu thập thửa 33 gồm những thửa nào. Bởi vì các đương sự đều thừa nhận khi còn sống cụ G cho ông C1 canh tác các thửa đất mà cụ G đứng tên quyền sử dụng đất. Đến chương trình VLAP thì ông C1 nhập các thửa đất của cụ G cùng với thửa đất của ông C1 mua của ông Đ1.
Cấp sơ thẩm nhận định tại “tờ nhượng đất” ngày 03/7/1995 thì ông Nguyễn Văn Đ1 có bán cho ông Phạm Văn Q (tức ông Phạm Văn C1) phần đất khoảng 3.300m², sau đó ông C1 đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu (diện tích 3.340m²) nhưng trong hồ sơ vụ án không có thu thập việc ông C1 có đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 3.340 m² hay không, để xác định phần đất ông C1 mua của ông Đ1 ở vị trí nào để xác định là tài sản riêng của ông C1.
Án sơ thẩm xác định khối tài sản chung của cụ T7, cụ G tạo lập là 14.069m² - 3.340m² = 10.669m²; cụ T7 và cụ G mỗi người là 10.669 m²/2 = 5.334,5m². Án sơ thẩm chia thừa kế di sản của cụ T7 thành 05 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 1.066,9m². Do cụ G chết nên chia kỷ phần của cụ G cho ông T, ông C, bà Đ và ông C1 mỗi người được 266,7m². Do đó mỗi kỷ phần được chia là 1.333,6m². Nhưng khi quyết định chia cho bà Đ, ông T kỷ phần nhiều hơn so với nhận định là không phù hợp.
Ngày 22/12/2022 ông Phạm Văn C có đơn xin rút đơn khởi kiện nhưng cấp sơ thẩm không đình chỉ xét xử đối với việc rút đơn khởi kiện của ông C; ngày 07/01/2023 ông Phạm Văn C1 có đơn phản tố yêu cầu công nhận cho ông C1 quyền sử dụng đất thửa 33, tờ bản đồ 28, diện tích 14.028,8m², loại đất ONT + LNQ, tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; yêu cầu công nhận 3,340m² đất thuộc thửa 33 là tài sản riêng của ông C1 nhưng không được cấp sơ thẩm xem xét giải quyết là có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Đối với phần đất thuộc rạch công cộng diện tích 589m² cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết nhưng lại giải quyết công nhận cho bà Đ được sở hữu cây trồng trên phần đất rạch công cộng có diện tích 589m², bà Đ không phải trả giá trị cây trồng cho ông C1 là không đúng. Bởi vì cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết phần đất thuộc rạch công cộng nên không giải quyết phần cây trồng trên đất thuộc rạch công cộng thì mới đúng.
Mặc khác cấp sơ thẩm chia thừa kế cho bà Đ phần đất thuộc tách thửa 33-4, diện tích 896m², loại đất ONT + CLN, chia cho ông T phần đất diện tích 1.413m², thuộc tách thửa 33-1 + 33-2, loại đất LUA + CLN, chia cho bà Đ, ông T, ông C và ông C1 được đứng tên chung đối với phần đất dùng vào việc thờ cúng có diện tích 1.410,2m², thuộc tách thửa 42-1 + 42-2 + 33-6 + 33-5 + 33-7; loại đất LUA + NTD, tọa lạc ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long nhưng cấp sơ thẩm không xác định diện tích cụ thể của từng loại đất là bao nhiêu m² sẽ dẫn đến các đương sự không thể tiến hành kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà A và ông C1 xác định quá trình cải tạo đất ông C1 và bà A có rất nhiều công sức, nhưng khi chia thừa kế không tính đến công sức tôn tạo và quản lý di sản cho ông, bà là không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ông C1 và bà A.
Án sơ thẩm chia kỷ phần thừa kế cho bà Đ, ông T và kỷ phần thờ cúng cho ông T, ông C và ông C1 và cho các đương sự kê khai đăng ký quyền sử dụng đất được chia. Phần đất còn lại hơn 6.000m² cấp sơ thẩm không công nhận cho ai được quản lý sử dụng. Tại cấp phúc thẩm bà Đ và ông T xác định sẽ khởi kiện chia tiếp nếu anh, em không thỏa thuận được. Do đó có căn cứ xác định cấp sơ thẩm chưa giải quyết dứt điểm vụ án.
[2.2] Từ nhận định phân tích trên xét thấy cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ dẫn đến việc giải quyết vụ án chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Những thiếu sót của án sơ thẩm, tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục bổ sung được. Do đó cần phải hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm, nên ông Phạm Văn C1 không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long đã xử giữa nguyên đơn bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Văn T, ông Phạm Văn C với bị đơn là ông Phạm Văn C1 cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Giao hồ sơ về cho cho Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả ông Phạm Văn C1 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0009305 ngày 20/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Lộc |
Bản án số 259/2024/DS-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp di sản thừa kế
- Số bản án: 259/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đ tranh chấp di sản thừa kế với ông C
