Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 259/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/8/2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Hồng Hải
  2. Bà Trần Nguyệt Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Nguyễn Thiên Kim – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5: Bà Trần Thị Hồng Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 155/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phan Thúy H, sinh năm 1997
  2. Địa chỉ: Số G tỉnh lộ 10, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Đình Tuấn N, sinh năm 1994
  4. Địa chỉ: Số C A, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn – bà Phan Thúy H trình bày:

Bà Phan Thúy H và ông Nguyễn Đình Tuấn N đăng ký kết hôn ngày 13/01/2021 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2021. Trong thời gian chung sống với ông Nguyễn Đình Tuấn N, cả hai không có tiếng nói chung, có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Cả hai vợ chồng đã khắc phục bằng mọi cách nhưng không có kết quả. Từ thời điểm năm 2022, cả hai vợ chồng đã không còn sống chung, con chung sống cùng bà Phan Thúy H và được bà H nuôi dưỡng cho đến hiện tại. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm hiện tại đã không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Đình Tuấn N.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn Đình T Nhã có 01 con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Thảo N1 (nữ), sinh ngày 14/12/2020. Bà Phan Thúy H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1 sau ly hôn, không yêu cầu ông Nguyễn Đình Tuấn N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà và ông Nguyễn Đình T Nhã không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà và ông Nguyễn Đình T Nhã không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn – ông Nguyễn Đình Tuấn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc cũng như không gửi văn bản ý kiến nên Tòa án không ghi nhận lời khai của ông Nguyễn Đình Tuấn N trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Bà Phan Thúy H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Ông Nguyễn Đình Tuấn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án. Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời trình bày của các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thúy H, về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Đình Tuấn N; Về con chung: Giao con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Thảo N1 (nữ), sinh ngày 14/12/2020 cho bà Phan Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Nguyễn Đình Tuấn N cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Phan Thúy H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Đình Tuấn N, do đó quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông N có địa chỉ cư trú tại số C A, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/5/2024, bị đơn – ông Nguyễn Đình Tuấn N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số C A, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt văn bản tố tụng đối với ông Nguyễn Đình T Nhã theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông Nguyễn Đình Tuấn N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, bà Phan Thúy H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[3] Về nội dung vụ án:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Phan Thúy H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thúy H và ông Nguyễn Đình Tuấn N tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2021 ngày 13/01/2021 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hoà giải tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ nhưng bà Phan Thúy H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Đình Tuấn N. Đối với ông Nguyễn Đình Tuấn N, theo kết quả xác minh của Công an P, Quận E ngày 10/5/2024 cho thấy ông Nguyễn Đình Tuấn N, sinh năm 1994 có hộ khẩu thường trú tại số C A, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và thực tế đang cư trú tại địa phương. Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cho ông N nhưng ông N không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không có giải pháp, phương án nào để cải thiện tình trạng hôn nhân để vợ chồng quay trở lại cùng chung sống, xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Thúy H và quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thúy H và ông Nguyễn Đình Tuấn N chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp theo quy định tại Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.2] Về con chung: Bà Phan Thúy Huỳnh T1 khai bà và ông Nguyễn Đình Tuấn N có 01 con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Thảo N1 (nữ), sinh ngày 14/12/2020. Bà Phan Thúy H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1 sau ly hôn, không yêu cầu ông Nguyễn Đình Tuấn N cấp dưỡng nuôi con.

Xét, trẻ Nguyễn Ngọc Thảo N1 hiện đang sống với mẹ là bà Phan Thúy H, được bà H nuôi dưỡng, trẻ N1 phát triển bình thường về thể chất và tinh thần nên Hội đồng xét xử có căn cứ giao trẻ Nguyễn Ngọc Thảo N1 cho bà Phan Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Đình Tuấn N của bà Phan Thúy Huỳnh .

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phan Thúy Huỳnh T1 khai bà và ông Nguyễn Đình Tuấn N không có tài sản chung, không có nợ chung, nghĩa vụ dân sự chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[6] Về án phí:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Phan Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 55, Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật Thi hành án Dân sự.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thúy Huỳnh .

1.1. Về hôn nhân: Bà Phan Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Đình Tuấn N (Giấy chứng nhận kết hôn số: số 05/2021 ngày 13/01/2021 đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau không còn giá trị pháp lý).

1.2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Thảo N1 (nữ), sinh ngày 14/12/2020 cho bà Phan Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Nguyễn Đình Tuấn N cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà người trực tiếp nuôi dưỡng cùng các thành viên gia đình không được cản trở. Ngược lại, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có lý do chính đáng, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được luật định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thúy Huỳnh T1 khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Bà Phan Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Phan Thúy H đã nộp theo biên lai số 0036116 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phan Thúy H đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

4. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • -TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Quận 5;
  • - Chi cục THADS Quận 5;
  • - UBND thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mauu
  • - Các đương sự;
  • -Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Thị Bích Trâm

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 259/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 259/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger