Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 259/2024/HS-ST

Ngày: 20-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh

Thẩm phán: Ông Hoàng Nhật Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Quang Định

Ông Chu Quang Tiến

Bà Nguyễn Thị Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 479/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN L, sinh ngày 27/5/19XX tại H N; ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm X, thôn V T, xã V P, huyện T T, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1; có vợ Nguyễn Thùy L và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L:

Bà Phạm Thị Hồng - Luật sư Công ty Luật Hồng Minh Quang thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.

* Bị hại:

Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Xóm X, thôn V T, xã V P, huyện T T, TP Hà Nội, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Xóm X, thôn V T, xã V P, huyện T T, TP Hà Nội, có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Xóm X, thôn V T, xã V P, huyện T T, TP Hà Nội, có mặt.

3. Anh Nguyễn Xuân T4, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Xóm X, thôn V T, xã V P, huyện T T, TP Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố Hà Nội nhận được đơn của anh Nguyễn Văn H (Sinh năm 19XX; Nơi thường trú: Xóm X, thôn V T, xã V P, huyện P X, TP Hà Nội) tố cáo Nguyễn Văn L có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc góp tiền kinh doanh nhưng L không thực hiện và không trả lại tiền.

Quá trình điều tra xác định:

Năm 2016, Nguyễn Văn L được tuyển vào làm nhân viên bán hàng tại cửa hàng Điện máy xanh có địa chỉ: 36 Cầu Bươu, Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội, L làm việc tại đây đến tháng 02/2023 thì nghỉ việc. Nguyễn Văn L và anh Nguyễn Văn H quen biết nhau do là bạn bè học cùng nhau, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh H. Khoảng tháng 8/2021, Nguyễn Văn L dùng thủ đoạn gian dối giới thiệu với anh H về việc L làm thủ kho tại cửa hàng Điện máy xanh nên có thể mua các thiết bị điện tử như điều hòa, tủ lạnh, tivi...của cửa hàng Điện máy xanh với giá rẻ rồi bán lại cho khách hàng là chủ đầu tư của dự án Vinhome Smart City tại Hà Nội, các khách mua buôn và người thi công, lắp

đặt các thiết bị điện tử cho các tòa chung cư mới xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội để kiếm lợi nhuận. L rủ anh H góp vốn cùng L kinh doanh các thiết bị điện tử nêu trên và nói anh H góp vốn thì sau từ 10 ngày đến 15 ngày kể từ ngày góp vốn, L sẽ trả anh H tiền vốn và lợi nhuận từ 10.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng tùy theo đơn hàng. Việc kinh doanh sẽ do L chịu trách nhiệm thực hiện, anh H chỉ việc góp vốn và hưởng lợi nhuận. Tin là thật, anh H đồng ý góp vốn. Từ ngày 03/9/2021 đến ngày 05/9/2022, anh H sử dụng tài khoản số 19035652614018 mở tại ngân hàng Techcombank chuyển khoản 13 lần với tổng số tiền 4.790.000.000 đồng, sử dụng tài khoản số 19135652614012 mở tại ngân hàng Techcombank chuyển khoản 4 lần với tổng số tiền 985.000.000 đồng đều đến tài khoản số [...] của Nguyễn Văn L mở tại ngân hàng Vietinbank. Ngoài ra, anh H còn đưa cho chị Nguyễn Thị Hà Tr (sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Số X ngõ Y Q T, N H, T T, Hà Nội là em gái anh H) số tiền 200.000.000 đồng để nhờ giao cho L. Tổng số tiền anh H giao cho L để góp vốn kinh doanh thiết bị điện tử là 5.975.000.000 đồng. Cụ thể các lần anh H chuyển tiền cho L như sau:

STT Ngày anh H chuyển tiền cho L Số tài khoản anh H tại ngân hàng Techcombank Số tài khoản L tại ngân hàng Vietinbank Số tiền L nhận của anh H (đồng)
1 23/8/2022 Tiền mặt 200.000.000
2 6/9/2021 19035652614018 109003225321 100.000.000
3 6/9/2021 19035652614018 109003225321 100.000.000
4 22/9/2021 19035652614018 109003225321 140.000.000
5 23/9/2021 19035652614018 109003225321 160.000.000
6 19/10/2021 19135652614012 109003225321 300.000.000
7 30/10/2021 19135652614012 109003225321 85.000.000
8 16/11/2021 19135652614012 109003225321 300.000.000
9 19/3/2022 19035652614018 109003225321 490.000.000
10 15/8/2022 19035652614018 109003225321 200.000.000
11 16/8/2022 19035652614018 109003225321 100.000.000
12 23/8/2022 19035652614018 109003225321 500.000.000
13 26/8/2022 19135652614012 109003225321 300.000.000
14 31/8/2022 19035652614018 109003225321 600.000.000
15 31/8/2022 19035652614018 109003225321 600.000.000
16 5/9/2022 19035652614018 109003225321 1.100.000.000
17 5/9/2022 19035652614018 109003225321 300.000.000
18 5/9/2022 19035652614018 109003225321 400.000.000

Sau những lần anh H chuyển tiền góp vốn, để anh H tin tưởng việc L có hoạt động kinh doanh như đã thỏa thuận, L dùng thủ đoạn gian dối là sử dụng số tiền anh H chuyển góp vốn trả lại cho anh H tiền góp vốn và tiền lợi nhuận như đã thỏa thuận để anh H tin tưởng và tiếp tục giao tiền. Từ ngày 16/9/2021 đến ngày 18/9/2022, L sử dụng tài khoản số [...] mở tại ngân hàng Vietinbank chuyển khoản 23 lần với tổng số tiền 2.337.000.000 đồng đến tài khoản số 19035652614018 mở tại ngân hàng Techcombank, chuyển khoản 4 lần với tổng số tiền 725.000.000 đồng đến tài khoản số 19135652614012 mở tại ngân hàng Techcombank của anh H và sử dụng tài khoản số 19034401734018 mở tại ngân hàng Techcombank của L chuyển khoản số tiền 300.000.000 đồng đến tài khoản số 19035652614018 mở tại ngân hàng Techcombank; chuyển khoản 02 lần với tổng số tiền 88.500.000.000 đồng đến tài khoản số 19135652614012 mở tại ngân hàng Techcombank của anh H. Cụ thể như sau:

TT Ngày L chuyển tiền cho anh H Số tài khoản của L tại ngân hàng Vietinbank Số tài khoản của anh H tại ngân hàng Techcombank Số tiền L chuyển cho anh H (đồng)
1 16/9/2021 109003225321 19135652614012 200.000.000
2 16/9/2021 109003225321 19035652614018 15.000.000
3 2/10/2021 109003225321 19135652614012 300.000.000
4 2/10/2021 109003225321 19035652614018 18.000.000
5 4/11/2021 109003225321 19135652614012 100.000.000
6 10/11/2021 19034401734018 19135652614012 300.000.000
7 28/11/2021 109003225321 19035652614018 15.000.000
8 9/12/2021 109003225321 19035652614018 15.000.000
9 20/12/2021 109003225321 19035652614018 10.000.000
10 2/1/2022 109003225321 19035652614018 10.000.000
11 24/01/2022 19034401734018 19035652614018 13.500.000
12 14/2/2022 109003225321 19035652614018 10.000.000
13 26/2/2022 109003225321 19035652614018 10.000.000
14 8/3/2022 109003225321 19035652614018 10.000.000
15 6/4/2022 109003225321 19035652614018 25.000.000
16 10/5/2022 109003225321 19035652614018 12.500.000
17 25/5/2022 109003225321 19035652614018 25.000.000
18 10/6/2022 109003225321 19035652614018 25.000.000
19 28/6/2022 109003225321 19035652614018 18.000.000
20 28/7/2022 109003225321 19035652614018 25.000.000
21 15/8/2022 109003225321 19135652614012 25.000.000
22 21/8/2022 109003225321 19035652614018 320.000.000
23 29/8/2022 109003225321 19035652614018 333.500.000
24 3/9/2022 109003225321 19035652614018 300.000.000
25 3/9/2022 109003225321 19035652614018 300.000.000
26 3/9/2022 109003225321 19035652614018 300.000.000
27 3/9/2022 109003225321 19035652614018 300.000.000
28 3/9/2022 109003225321 19035652614018 30.000.000
29 11/9/2021 109003225321 19035652614018 110.000.000
30 18/9/2022 19034401734018 19035652614018 75.000.000

Ngoài ra, L trừ số tiền 6.500.000 đồng anh H nhờ L mua hộ đồ dùng gia đình và L đưa trực tiếp cho anh H số tiền 7.000.000 đồng. Tổng số tiền L chuyển cho anh H là 3.264.000.000 đồng; số tiền còn lại là 2.711.000.000 đồng L không sử dụng vào việc kinh doanh thiết bị điện tử như thỏa thuận với anh H mà chi tiêu cá nhân hết.

Đến khoảng cuối tháng 9/2022, anh H không nhận được tiền lợi nhuận và tiền góp vốn nên nhiều lần yêu cầu L thực hiện cam kết và đưa đến gặp khách hàng mua thiết bị điện tử nhưng L nhiều lần hứa hẹn sau đó không thực hiện và không trả tiền nên ngày 28/5/2023 anh H làm đơn gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội tố giác hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Văn L. Ngày 18/10/2023, anh Nguyễn Xuân T (sinh năm: 19XX; Nơi thường trú: Xóm X, thôn V T, xã V P, huyện T T, TP Hà Nội, Hà Nội là anh trai của L) trả cho anh Nguyễn Văn H 750.000.000 đồng.

- Xác minh tại Cửa hàng Điện máy xanh, địa chỉ: Số 36 Cầu Bươu, Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội xác định: Nguyễn Văn L làm nhân viên bán hàng tại cửa hàng Điện máy xanh từ năm 2016 đến tháng 02/2023 thì nghỉ việc. Cửa hàng Điện máy xanh đã rà soát dữ liệu khách mua hàng, xác định L không mua các đơn hàng điện tử, điện lạnh theo thỏa thuận góp vốn với

anh Nguyễn Văn H.

- Xác minh tài khoản của anh Nguyễn Văn H tại ngân hàng Techcombank và tài khoản của Nguyễn Văn L tại ngân hàng Vietinbank thể hiện việc chuyển tiền giữa anh H và L.

- Tại biên bản kiểm tra điện thoại của Nguyễn Văn L và anh Nguyễn Văn H thể hiện có việc trao đổi thỏa thuận việc chuyển tiền góp vốn kinh doanh các thiết bị điện tử giữa anh H và L.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên, lời khai phù hợp với bị hại anh Nguyễn Văn H. Nguyễn Văn L khai số tiền chiếm đoạt của anh H, L cho Nguyễn Thế A (sinh năm:19XX; Nơi thường trú: Xóm X, thôn V T, xã V P, huyện T T, TP Hà Nội, Hà Nội) vay để kinh doanh mua bán xe ô tô, sau đó Thế A đã trả lại cho L và L đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết và không kinh doanh đồ điện tử như đã thỏa thuận với anh H.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Văn H yêu cầu Nguyễn Văn L trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 1.961.000.000 đồng và đề nghị xử lý Nguyễn Văn L theo quy định pháp luật.

Bản cáo trạng số 649/CT-VKS-P3 ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội làm việc có ích cho xã hội nuôi dạy con cái.

Bị hại anh Nguyễn Văn H không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì về khoản tiền bỏ ra bồi thường thay cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai

của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng cùng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L từ 07 đến 08 năm tù.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L trình bày bản bào chữa không có ý kiến gì về tội danh và điều luật Viện kiểm sát đã truy tố; trong giai đoạn điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nhờ Luật sư nhắn tin về xin lỗi bố mẹ, bị hại và có nguyện vọng gia đình bồi thường cho bị hại; gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại hết khoản tiền chiếm đoạt, bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình, 02 con còn nhỏ; bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Luật sư đề nghị áp dụng điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình nuôi dưỡng bố, mẹ già và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa phù hợp

với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng tháng 8/2021, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Văn L nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Nguyễn Văn H bằng thủ đoạn gian dối giới thiệu với anh Nguyễn Văn H về việc L làm quản lý tại cửa hàng Điện máy xanh nên có thể mua các thiết bị điện tử của cửa hàng Điện máy xanh với giá rẻ rồi bán lại cho khách hàng là chủ đầu tư của dự án Vinhome Smart City tại Hà Nội, các khách mua buôn và người thi công lắp đặt các thiết bị điện tử cho các tòa chung cư mới xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội và bảo anh H góp vốn cùng L kinh doanh thiết bị điện tử thì sau khi góp vốn từ 10 ngày đến 15 ngày L sẽ trả anh H tiền vốn và lợi nhuận từ 10.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng tùy theo đơn hàng. Tin là thật, từ ngày 03/9/2021 đến ngày 05/9/2022 anh H chuyển khoản cho L tổng số tiền 5.975.000.000 đồng. Để anh H tin tưởng L có thực hiện việc kinh doanh, trong quá trình nhận tiền góp vốn L sử dụng số tiền này trả lại anh H tiền góp vốn và lợi nhuận tổng là 3.250.500.000 đồng để tạo niềm tin. Số tiền còn lại là 2.711.000.000 đồng L sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, hành vi chiếm đoạt tổng số tiền 2.711.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn L thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên”. Chính vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng các quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu riêng về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, hoang mang lo lắng bất bình trong nhân dân. Do vậy đối với bị cáo cần phải đưa ra xét xử trước pháp luật mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng ngừa loại tội phạm này nói chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Tăng nặng: Không.

- Giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ cải tạo bị cáo trở thành con người lương thiện.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra và chuyển bị xét xử gia đình bị cáo là ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Xuân T3 đã bồi thường thay cho bị cáo trả cho anh Nguyễn Văn H tổng số tiền bị cáo còn chiếm đoạt là 1.961.000.000 đồng. Đến nay bị hại anh Nguyễn Văn H không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên tòa không xem xét.

[6] Đối với số tiền ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Xuân T3 đã bỏ ra bồi thường thay cho bị cáo trả cho anh Nguyễn Văn H, đến nay ông T1, bà T2 và anh T3 không có yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại nên Tòa không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 07 (Bẩy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2023.

2. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Cục T.H.A Dân sự thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Ngọc Cảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 259/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 259/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger