|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 259/2024/HS-ST Ngày: 19/9/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đăng Thúy.
Ông Đỗ Đức Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Lê Mạnh Tuấn- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 264/2024/TLST- HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2024/ QĐXXST- HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại hai điểm cầu là Hội trường xét xử tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an tỉnh B đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn P, sinh năm 1989;
HKTT: Thôn D, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn C, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1965; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là thứ ba; Có vợ là Nguyễn Thị A, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Có mặt tại phòng xét xử- Trại tạm giam Công an tỉnh B.
2. Nguyễn Bá G, sinh năm 1992;
HKTT: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Bá B, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1971; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; Có vợ là Bùi Thị H, sinh năm 1995 và có 01 con sinh năm 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: có 01. Tại Bản án số 38 ngày 23/7/2021 bị TAND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 12/5/2022 chấp hành xong toàn bộ bản án; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Có mặt tại phòng xét xử- Trại tạm giam Công an tỉnh B.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Thanh B1, sinh năm 1980; (Vắng mặt).
Trú tại: Tổ dân phố E, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Phan A1 - Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ ngày 12/5/2024, tại khu phố C C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Công an phường Đ kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Phạm Văn P và Nguyễn Bá G có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy. Ngay sau đó, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- - T tại lòng bàn tay phải của Phòng 02 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng được niêm phong theo quy định của pháp luật.
- - Thu giữ của G 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter đã qua sử dụng, BKS 17B5-21992; số máy G3D4E34742; số khung: RLCUG0610GY331838.
Tại bản kết luận giám định số: 1178/KL- KTHS ngày 14/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong 02 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy màu trắng có khối lượng là 0,4036 gam là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H).
Tại bản kết luận giám định số 1738 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- “- Biển kiểm soát 17B5-219.92 gửi giám định không đúng với mẫu so sánh lưu tại PC09.
- - Xe mô tô gửi giám định có số máy, số khung không bị tẩy xóa, không bị đóng đục lại. Hàng chữ số đóng trên thân máy: G3D4E348742 và hàng chữ số đóng trên khung xe: RLCUG0610GY331838 là nguyên thủy”.
Qua tra cứu chiếc xe Yamaha Exciter không phải xe phải xe vật chứng.
Quá trình điều tra xác định: Biển kiểm soát 17B5-219.92 là biển kiểm soát của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu đen bạc, số máy: HC12E7028935, số khung: RLHHC1251F Y028781, chủ sở hữu là chị Vũ Thị T1, sinh năm 1994, trú tại: thôn D, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Chị T1 xác định từ khi mua xe đến nay, chị T1 không bị mất, mua bán hay trao đổi tặng cho ai. Biển kiểm soát của xe chị không bị mất hay hỏng hóc gì và không đề nghị gì với chiếc biển kiểm soát trên.
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 178/CT- VKS- TS ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử các bị cáo Phạm Văn P và Nguyễn Bá G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh B, bị cáo P khai nhận: Phòng quen biết và làm cùng công ty với G. Khoảng 12 giờ ngày 12/5/2024 P rủ G đi mua ma túy về cùng sử dụng thì G đồng ý. Sau đó G điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, BKS 17B5- 21992 của G chở Phòng đến phường Đ, thành phố T để mua ma túy. Khi đi đến khu phố C C, phường Đ, G dừng xe chờ ở đầu đường còn Phòng đi bộ ở một ngõ nhỏ trong khu phố C C thì gặp 01 người phụ nữ không quen biết có biểu hiện giống người sử dụng ma túy. Phòng hỏi mua của người này 500.000 đồng ma túy Heroine được 02 gói nhỏ màu trắng. P cầm 02 gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay phải đi ra chỗ G đứng chờ và nói cho G biết đã mua được ma túy. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi P và G đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị lực lược công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng như Cáo trạng đã nêu. Ngoài ra, trưa ngày 11/5/2024 tại phường Đ, thành phố T, Phòng mua được 100.000 đồng ma túy Heroine của 01 người đàn ông không quen biết và đã sử dụng hết. Số tiền mua ma túy hai lần trên đều là tiền của bị cáo lao động mà có.
Bị cáo G khai nhận: G có dùng xe mô tô của mình chở P đi mua ma túy để cả hai cùng sử dụng. Sau khi đến địa bàn phường Đ thì P là người đi mua ma túy, còn
G đứng chờ ở ngoài. Sau khi mua được ma túy, G chở P đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an bắt quả tang. G bị thu giữ chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, BKS 17B5- 219.92. Đây là xe G mua lại của người không quen biết qua mạng facebook với giá 12 triệu đồng từ tháng 12/2023. Khi mua có giấy tờ xe nhưng quá trình sử dụng G đã làm mất. G đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật đối với chiếc xe này. Ngoài ra, tối ngày 11/5/2024 tại phường Đ, thành phố T, G mua 100.000 đồng ma túy Heroine của 01 người đàn ông không quen biết và đã sử dụng hết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Thanh B1 trình bày tại cơ quan điều tra: Anh B1 mua chiếc xe Yamaha Exciter, BKS 98B2-805.97 vào năm 2016 và đăng ký chính chủ tên anh B1. Nhưng đến nay anh B1 không còn giấy tờ gì của xe trên. Sau khi chấp hành án về tháng 3/2024 thì phát hiện chiếc xe bị mất, nhưng anh B1 không trình báo. Quá trình sử dụng xe mô tô trên thì anh B1 không bán hay tặng cho ai. Anh B1 đề nghị xin lại chiếc xe trên.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn P và Nguyễn Bá G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; (điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo G); Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn P từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/5/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá G từ 19 tháng đến 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/5/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật và vỏ đựng mẫu vật còn lại sau giám định và 01 biển kiểm soát 17B5-219.92.
Trả lại cho anh Lê Thanh B1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter số máy G3D4E34742; số khung: RLCUG0610GY331838.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai báo và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 13 giờ ngày 12/5/2024, tại khu phố C C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Phạm Văn P và Nguyễn Bá G có hành vi tàng trữ trái phép 0,4036 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất và vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, mặc dù các bị cáo có rủ nhau đi mua ma túy về cùng sử dụng nhưng không có sự bàn bạc và cấu kết chặt chẽ. Trong đó, bị cáo P giữ vai trò chính
là người rủ rê bị cáo G và là người trực tiếp đi vào ngõ mua ma túy, sử dụng tiền của bị cáo để mua ma túy. Bị cáo G là người giúp sức chở bị cáo P đi mua ma túy và đi tìm nơi sử dụng. Do đó, bị cáo P giữ vai trò cao hơn bị cáo G.
[5] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
Các bị cáo đều là người có nhân thân rất xấu, là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và đến nay vẫn chưa cai nghiện được. Trong đó bị cáo G đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Do đó, đối với lần phạm tội này bị cáo G phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phòng không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, xét thấy tội phạm các bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, do đó cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, giúp bị cáo cai nghiện để trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi bất chính, bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số mẫu vật và vỏ đựng mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với Biển kiểm soát 17B5-219.92 gửi giám định không đúng với mẫu so sánh lưu tại PC09, do đó cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Liên quan trong vụ án:
Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu xám đen, số máy G3D4E34742; số khung xe: RLCUG0610GY331838 thu giữ của Nguyễn Bá G. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên có biển kiểm soát 98B2-805.97, chủ sở hữu là anh Lê Thanh
B1, sinh năm 1980; trú tại: Tổ dân phố E, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên đến nay anh B2 không còn giữ được bất kỳ giấy tờ, tài liệu gì đối với chiếc xe trên. Quá trình sử dụng xe mô tô này anh B1 không trình báo bị mất, không mua bán, trao tặng cho ai. Bản thân bị cáo G cũng không chứng minh được chiếc xe trên có giấy tờ mua bán hợp pháp. Hiện nay chiếc xe là phương tiện bị cáo G sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, lẽ ra cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên xét thấy anh B1 là chủ sở hưu hợp pháp chiếc xe và có yêu cầu xin lại, đồng thời chiếc xe trên cũng không là vật chứng của vụ án khác nên cần trả lại chiếc xe trên cho anh B1 là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phòng và G vào ngày 11/5/2024, Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Phòng ngày 12/5/2024 và những người đàn ông bán ma túy cho P và G vào trưa và tối ngày 12/5/2024, các bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; (điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Nguyễn Bá G); Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn P và Nguyễn Bá G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn P 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/5/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá G 19 (Mười chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/5/2024.
Quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật và vỏ đựng mẫu vật còn lại sau giám định và 01 biển kiểm soát 17B5-219.92.
Trả lại cho anh Lê Thanh B1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter số máy G3D4E34742; số khung: RLCUG0610GY331838.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn ngày 23/8/2024);
4. Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn P và Nguyễn Bá G, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Chinh |
Bản án số 259/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 259/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
