|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 259/2024/HS-ST
Ngày: 03/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Tú
- Bà Dương Thị Phương
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 268/2024/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 89/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với:
Bị cáo Nguyễn Thị N
Nơi thường trú và chỗ ở: Số nhà D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh HóaQuốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Con ông Nguyễn Văn H năm 1958; Con bà Thiều Thị S năm 1957; Chồng Lê Thanh H1sinh năm 1980; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)
Những người có QLVNVLQ:
- Chị Phạm Thị H1 năm 1983
- Chị Phạm Thị H2 năm 1992 (vắng mặt)
- Anh Lê Bá D năm 1980
- Anh Đỗ Ngọc T năm 1968 (vắng mặt)
- Anh Đỗ Văn L năm 1980
Trú tại: D V, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa(vắng mặt)
Trú tại: B P, phường Q, TP ., tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa(vắng mặt)
Trú tại: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: Thôn A, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở tin báo tố giác tội phạm của Chi cục thuế khu vực thành phố T - Đvề việc Công ty TNHH V1 số thuế: 2802898688, địa chỉ: Khu phố X, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóacó dấu hiệu sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, Cơ quan điều tra Công an T2đã tiến hành điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra xác định: Trong thời gian từ năm 2020 đến năm 2022, Nguyễn Thị N1 thành lập mới và mua lại sau đó trực tiếp quản lý điều hành 05 Công ty với mục đích bán hóa đơn gồm:
- - Công ty TNHH V2: 2802898688, địa chỉ: Khu phố X, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóado Nđăng ký thành lập, đứng tên chủ sở hữu và là Giám đốc - Người đại diện theo pháp luật của Công ty;
- - Công ty TNHH D1: 2802611504, địa chỉ tại: Thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh HóaCông ty này Nnhận chuyển nhượng của chị Lê Thị N2 công ty và để chồng Nlà Lê Thanh H1sinh năm 1980 (Trú tại số nhà F, phường A, TP .đứng tên chủ sở hữu và là người đại diện theo pháp luật của Công ty;
- - Công ty TNHH T4: 2802938669, địa chỉ tại thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóado Nđăng ký thành lập đưa Lý T1 H4sinh năm 1985 (Trú tại số nhà B, phường A, quận B, TP H tên chủ sở hữu và là Giám đốc - Người đại diện theo pháp luật của Công ty. (Thông tin về Lý Thanh H4do Ntìm kiếm trên mạng xã hội, không có mối quan hệ nào với NHiện tại L H4đã đi khỏi địa chỉ trên không rõ ở đâu).
- - Công ty TNHH V2: 2802823883, địa chỉ tại: Khu phố X, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóado Hà Văn T1sinh năm 1970 (Trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóađứng tên chủ sở hữu và là Giám đốc - Người đại diện theo pháp luật của Công ty;
- - Công ty TNHH A: 2802608646, Địa chỉ tại: Thôn T, phường Đ, TP.do Nguyễn Tấn N3(Trú tại Ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nailà Giám đốc Công ty.
- Quá trình quản lý và điều hành 05 Công ty trên, Nguyễn Thị N1 xuất bán trái phép 12 số hoá đơn giá trị gia tăng không có hàng hoá kèm theo và thu tiền theo % giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn cho các cá nhân gồm:
- Bản trái phép 06 hóa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo của Công ty TNHH V3 (trú tại SN 406 V, phường T, thành phố T kế toán Công ty TNHH Đ tổng giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn trước thuế là 1.301.356.000đ (một tỷ ba trăm lẻ năm triệu ba trăm năm sáu nghìn đồng), thu lời 08% tổng giá trị hàng hóa trên hóa đơn trước thuế tương ứng với số tiền 104.108.480đ (một trăm lẻ bốn triệu một trăm lẻ tám nghìn bốn trăm tám mươi đồng).
- Bán trái phép 01 hóa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo của Công ty TNHH V4 (trú tại SN 21 P, phường Q, thành phố T kế toán Công ty TNHH H3 tổng giá trị hàng hóa ghi trên hoá đơn trước thuế là 258.000.000₫ (hai trăm năm mươi tám triệu đồng), thu lời 01% tổng giá trị hàng hóa trên hóa đơn trước thuế tương ứng với số tiền 2.580.000đ (hai triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).
- Bán trái phép 01 hóa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo của Công ty TNHH V5 ông Phạm Văn Q năm 1975 (ở thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóavới tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 1.806.342.000đ (một tỷ tám trăm lẻ sáu triệu ba trăm bốn hai nghìn), thu lời 01% tổng giá trị hàng hóa trên hóa đơn trước thuế tương ứng với số tiền 18.063.420đ (mười tám triệu không trăm sáu ba nghìn bốn trăm hai mươi đồng).
- Bản trái phép 02 hóa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo của Công ty TNHH V6 giám đốc Công ty cổ phần X tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 145.757.000đ (một trăm bốn lăm triệu bảy trăm năm bảy nghìn đồng), thu lời 01% tổng giá trị hàng hóa trên hóa đơn trước thuế tương ứng với số tiền 1.457.570đ (một triệu bồn trăm năm bảy nghìn năm trăm bảy mươi đồng).
- Bán trái phép 01 hóa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo của Công ty TNHH T5 năm 1968 (trú tại khu 1. Thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóalà Giám đốc công ty TNHH MTV X1 số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 104.176.000₫ (một trăm lẻ bốn triệu một trăm bảy sáu nghìn đồng), thu lời 01% tổng giá trị hàng hóa trên hóa đơn trước thuế tương ứng với số tiền 1.041.760đ (một triệu không trăm bốn một nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).
- Bán trái phép 01 hỏa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo của Công ty TNHH T6 năm 1980 (trú tại thôn A, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóalà Giám đốc Công ty cổ phần T7 tổng số tiền ghi trên hoá đơn trước thuế là 53.200.000đ (năm ba triệu hai trăm nghìn đồng), thu lời 01% tổng giá trị hàng hóa trên hóa đơn trước thuế tương ứng với số tiền 532.000đ (năm trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Ngoài hành vi bán 12 hóa đơn cho các Công ty như nêu trên, Nguyễn Thị N4 bán cho những người không rõ tên tuổi, lai lịch 84 hóa đơn giá trị gia tăng đã ghi nội dung, với giá tiền 100.000 đồng/hóa đơn, tương đương với số tiền Nthu lời bất chính là 8.400.000đ (tám triệu bốn trăm nghìn đồng).
Đối với 84 hoá đơn này, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của những người đã trực tiếp mua, bán hoá đơn với Nguyễn Thị N5 đơn vị hiện đang sử dụng số hóa đơn trên đều khai báo khẳng định: Các hóa đơn họ sử dụng đều có hàng hóa kèm theo. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với các đơn vị đang sử dụng các hoá đơn trên.
Ngày 25/9/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Nó không thu giữ được gì.
Đối với chứng từ sổ sách theo dõi của 05 công ty do N7 lý điều hành (nêu trên) do biết việc mua bán hoá đơn là vi phạm pháp luật nên N1 vứt bỏ từ trước không thu hồi được.
Ngày 25/9/2023, Nguyễn Thị N1 tự nguyện giao nộp lại 100.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
Về vật chứng: Hiện đang thu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa số tiền 100.000.000đ thu lợi bất chính do Nguyễn Thị N8 nộp.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thị N9 khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đối với chị Lê Thị N10 người thành lập Công ty TNHH D2(tiền thân của Công ty TNHH D3 thời gian điều hành công ty có hoạt động kinh doanh thực tế. Đến tháng 03/2020, làm thủ tục sang nhượng Công ty cho Nguyễn Thị N11 không còn tham gia hoạt động gì của Công ty nên không có căn cứ đề xử lý.
Đối với anh Nguyễn Văn S1 người thành lập Công ty TNHH A1 thời gian điều hành công ty có hoạt động kinh doanh thực tế. Đến tháng 12/2020, giao Công ty cho Nguyễn Thị Nquản 1, điều hành và không còn tham gia vào hoạt động của Công ty nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Nguyễn Tấn N2là người đứng tên chủ sở hữu và người đại diện của Công ty A2 H4là người đứng tên chủ sở hữu và người đại diện của Công ty TNHH T8 điều tra xác minh không có nhân thân lai lịch của hai người này; N12 đã lấy thông tin của Nguyễn T2 N2và Lý Thanh H4trên mạng xã hội vì vậy không có căn cứ để xử lý.
Đối với Lê Thanh H1là người đứng tên người đại diện theo pháp luật cho Công ty TNHH D4 T1là người đứng tên người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH V7 thực tế không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, ký kết hợp đồng kinh tế của Công ty và không biết việc xuất hóa đơn của công ty nên không có căn cứ xử lý.
Đối với P hành vi mua trái phép 07 hoá đơn GTGT của Công ty TNHH V8(H206 hóa đơn: Huyền 01 hóa đơn). Hành vi của H2và H3chưa đến mức xử lý hình sự về tội “Mua bán trái phép hoá đơn", căn cứ các điều 4, 16, 17, 28 và điều 32 Nghị định 125/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn, Cơ quan điều tra chuyên hồ sơ, tài liệu đến Chi cục thuế khu vực TP . - Đđể xử lý hành chính theo thẩm quyền.
Đối với Đỗ Văn Lvà Đỗ Ngọc T3 mua trái phép 02 hoá đơn GTGT (Luyện 01 hóa đơn; T 01 hóa đơn) của Công ty TNHH T9 mua trái phép 02 hoá đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH V9 của LTvà Dchưa đến mức xử lý hình sự về tội "Mua bán trái phép hoá đơn", căn cứ các điều 4, 16, 17, 28 và điều 32 Nghị định 125/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, tài liệu đến Chi cục thuế khu vực T10 - Tđể xử lý hành chính theo thẩm quyền.
Đối với 01 hóa đơn GTGT không có hàng hỏa kèm theo của Công ty TNHH V10 cho một người tên H5sau đó được xuất cho Công ty TNHH D5 giám đốc công ty D6 báo khẳng định: Hóa đơn công ty ông mua có hàng hóa kèm theo, do đó không có căn cứ xử lý đối với ông Q
Tại Cáo trạng số 194/CT-VKS ngày 22/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Thị N13 tội “Mua bán trái phép hoá đơn” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 - của Bộ luật hình sự tuyên bố Nguyễn Thị N14 tội “Mua bán trái phép hoá đơn”; Xử phạt Nguyễn Thị N15 18 đến 20 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 đến 40 tháng; Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ; Truy thu số tiền bị cáo thu lợi bất chính 136.183.230đ, bị cáo đã giao nộp 100.000.000đ, tiếp tục truy thu 36.183.230đ; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2022, bị cáo Nguyễn Thị N1 mua lại Công ty TNHH D2(của chị Lê Thị N10 chủ công ty) sau đó đổi tên thành công ty TNHH D7(chồng bị cáo) đứng tên chủ sở hữu và là người đại diện theo pháp luật; Đồng thời bị cáo nhận quản lý điều hành Công ty TNHH A3(do anh Nguyễn Văn S1 chủ công ty) sau đó bị cáo đăng ký cho Nguyễn T2 N2là người đại diện công ty; Và bị cáo đăng ký thành lập 03 công ty gồm: Công ty TNHH D4 bị cáo đứng tên chủ công ty; Công ty TNHH D4 T1đứng tên chủ công ty; Công ty TNHH T11 H4đứng tên chủ công ty nhằm thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn Giá trị gia tăng. Bị cáo đã trực tiếp quản lý, điều hành cả 05 công ty và trực tiếp bán ra 96 số hóa đơn GTGT đã ghi nội dung của 05 Công ty (nêu trên) không có hàng hoá dịch vụ kèm theo, thu lợi bất chính số tiền 136.183.230đ.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép hóa đơn thu nộp ngân sách Nhà Nước”. VKSND TP .truy tố bị cáo theo điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất vụ án: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý kinh tế trong việc quản lý các loại hóa đơn chứng từ; Xâm phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, xâm hại đến lợi ích quốc gia về kinh tế, làm suy giảm ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để răn đe giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo; Đầu thú; Tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vây HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật;
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến anh ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo là đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Biện pháp tư pháp: Số tiền 136.183.230đ bị cáo thu được từ việc bán hoá đơn là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội do đó tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã giao nộp 100.000.000₫ do đó tiếp tục truy thu số tiền thu lợi bất chính còn thiếu là 36.183.230đ.
[5] Vật chứng: Hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án số tiền 100.000.000₫ bị cáo giao nộp. Xét đây là một phần số tiền bị cáo thu lợi bất chính do đó tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điều 106 Bộ luật hình sự.
[6] Đối với anh Nguyễn Văn S1 chủ sở hữu Công ty TNHH A4 12/2020 anh chuyển Công ty cho Nguyễn Thị Nquản 1, điều hành, không còn tham gia hoạt động của Công ty. Sau đó N16 ký đổi tên chủ sở hữu và người đại diện công ty này thành N L H1chủ sở hữu - Giám đốc Công ty TNHH D8 đứng tên (do bị cáo đăng ký khi thành lập công ty) chứ không trực tiếp quản lý điều hành công ty; Anh Hà V T1người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH V11 do bị cáo tự lấy thông tin của anh T1để đăng ký thành lập công ty, anh Tlhoàn toàn không biết việc thành lập công ty và không liên quan đến công ty. Anh Slanh Hlanh T1không trực tiếp tham gia vào việc điều hành và các hoạt động của công ty, không biết việc bị cáo mua bán trái phép hoá đơn của công ty. Do đó Cơ quan điều tra không xử lý những người này là đúng quy định của pháp luật.
[7] Anh Nguyễn T2 N2đứng tên chủ sở hữu và đại diện theo pháp luật của Công ty T11 H4đứng tên chủ sở hữu và người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T12 những người mà bị cáo lấy thông tin trên mạng xã hội để đăng ký tên người đại diện công ty, qua điều tra, xác minh không có nhân thân lai lịch nên không xử lý.
[8] Đối với P hành vi mua trái phép 07 hoá đơn GTGT của Công ty TNHH V8(H206 hóa đơn: Huyền 01 hóa đơn); Đỗ Văn Lvà Đỗ Ngọc T3 mua trái phép 02 hoá đơn GTGT (Luyện 01 hóa đơn; T 01 hóa đơn) của Công ty TNHH T9 mua trái phép 02 hoá đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH V12 hành vi của những người này chưa đến mức xử lý hình sự về tội “Mua bán trái phép hoá đơn", Cơ quan điều tra chuyên hồ sơ, tài liệu đến Chi cục thuế khu vực thành phố T - Đđể xử lý hành chính theo thẩm quyền đối với H2và H3Chuyển hồ sơ, tài liệu đến Chi cục thuế khu vực T5Tđể xử lý hành chính theo thẩm quyền đối với LTvà Dlà đúng quy định tại các điều 4, 16, 17, 28 và điều 32 Nghị định 125/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
[9] Đối với 01 hóa đơn GTGT không có hàng hỏa kèm theo của Công ty TNHH V10 cho một người tên H5sau đó được xuất cho Công ty TNHH D5 giám đốc công ty D6 báo khẳng định: Hóa đơn công ty ông mua có hàng hóa kèm theo, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với ông Q2 đúng pháp luật.
[10] Đối với các đơn vị, Doanh nghiệp sử dụng 84 số hóa đơn bị cáo bán qua những người không rõ nhân thân lai lịch đều khẳng định: Các hóa đơn họ sử dụng đều có hàng hóa, dịch vụ kèm theo. Qua điều tra không có căn cứ để xác định có hành vi vi phạm do đó Cơ quan điều tra không xử lý đối với các đơn vị đang sử dụng các hoá đơn trên là đúng pháp luật
[11] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.
[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N14 tội “Mua bán trái phép hoá đơn thu nộp ngân sách Nhà nước”
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N17 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền UBND phường Đ, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) bị cáo giao nộp và Công an T2đã chuyển đến tài khoản 3949.0.1054982 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá theo giấy uỷ nhiệm chi số 09 lập ngày 24/5/2024 của Công an thành phố T.
- Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị N18 tiền 36.183.230đ (Ba sáu triệu một trăm tám ba ngàn hai trăm ba mươi đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 - BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Những người có quyền lọi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 259/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép hoá đơn
- Số bản án: 259/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hoá đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N (Mua bán TP hóa đơn...)
