Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 259/2025/HNGĐ-ST

Ngày 31-12-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội đồng thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
  2. Ông Nguyễn Đức Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 504/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Bé H, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 6 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phan Thị Bé H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Bé H và anh Trần Văn H1 sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) theo giấy chứng nhận kết hôn số 08/KH, quyển số 01/2013 ngày 18/02/2013.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thị trấn T, tỉnh Đồng Tháp đến năm 2023 chuyển đến phường L sinh sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau cuộc sống không hạnh phúc. Nay chị Phan Thị Bé H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn H1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có hai người con chung tên Trần Thanh V, sinh ngày 04/02/2011 và Trần Thị Kim L, sinh ngày 24/02/2009. Sau khi ly hôn chị Phan Thị Bé Hai yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và tự nguyện không yêu cầu anh Trần Văn H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Văn H1 đã được Tòa án tống đạt bằng hình thức niêm yết nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật liên quan. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Phan Thị B Hai khởi kiện yêu cầu ly hôn tranh chấp, nuôi con đối với bị đơn anh Trần Văn H1. Bị đơn anh Trần Văn H1 có địa chỉ cư trú tại số A, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Phan Thị Bé H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn H1 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Bé H và anh Trần Văn H1 có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08/KH, quyển số 01/2013 ngày 18/02/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Căn cứ ly hôn: Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phan Thị Bé H xác định mâu thuẫn vợ chồng là do quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập anh Trần Văn H1 để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng anh H1 không đến, đồng thời Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng tại Ban điều hành khu phố B, nhưng Ban điều hành khu phố không biết về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H1 và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị B Hai là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Phan Thị Bé H trình bày quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên là Trần Thị Kim L, sinh ngày 24/02/2009 và Trần Thanh V, sinh ngày 04/02/2011. Sau ly hôn, chị Phan Thị Bé H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi phải bảo đảm để con chung phát triển tốt về mọi mặt. Quá trình tố tụng, anh Trần Văn H1 không có ý kiến gì về việc yêu cầu nuôi con chung, đồng thời căn cứ vào ý kiến của cháu Trần Thị Kim L, cháu Trần Thanh V có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Tòa án giao 02 con chung cho chị Phan Thị B Hai trực tiếp nuôi dưỡng.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phan Thị Bé H tự nguyện không yêu cầu anh Trần Văn H1 cấp dưỡng nuôi các con chung, xét đây là sự tự nguyện của chị Phan Thị B Hai nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Từ những phân tích nêu trên có căn cứ chấp nhận cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Phan Thị Bé H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị B Hai về tranh chấp ly hôn đối với bị đơn anh Trần Văn H1.
    • 1.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Bé H được ly hôn với anh Trần Văn H1 [Giấy chứng nhận kết hôn số 08/KH, quyển số 01/2013 ngày 18/02/2013 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) cấp.
    • 1.2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Kim L, sinh ngày 24/02/2009 và Trần Thanh V, sinh ngày 04/02/2011 cho chị Phan Thị B Hai trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phan Thị B Hai không yêu cầu anh Trần Văn H1 cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị Phan Thị Bé H và anh Trần Văn H1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm về ly hôn: Chị Phan Thị Bé H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0027167 ngày 16 tháng 10 năm 2025 của Chi thi hành án dân sự Thành phố H.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND khu vực 16;
  • - Phòng THADS khu vực 16;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Liễng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 259/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 259/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phan Thị Bé H tranh chấp ly hôn với anh Trần Văn H1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger