|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 259/2025/DS-ST Ngày: 13-6-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh
Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
- Bà Huỳnh Thị Lệ Quyên
Thư ký Tòa án: Ông Hoàng Quốc Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 158/2025/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 112/2025/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn : Công ty T (Việt Nam)
Địa chỉ: I P, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ông Lee Yun H – Chức vụ: Tổng Giám Đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Phước Quỳnh G – sinh năm 2001 (Theo các Giấy ủy quyền số 012023/QĐ-Luật TNT ngày 01/03/2023 về việc bổ nhiệm Phó Giám Đốc; Giấy ủy quyền số 012023/UQ-Luật TNT ngày 01/03/2023 về việc ủy quyền cho Phó giám đốc thực hiện nhiệm vụ ký các Hợp đồng, giấy tờ pháp lý và Giấy ủy quyền ngày 01/07/2024) (xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Diệp Kiến L, sinh năm: 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: 623/20/51 C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn là bà Nguyễn Phước Quỳnh G trình bày:
Ngày 28/06/2022, Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T) ký Hợp đồng tín dụng số: 3322654 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Diệp Kiến L với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (Lãi suất 44%/năm). Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Diệp Kiến L theo Hợp đồng tín dụng, ông Diệp Kiến L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 10/07/2022 đến ngày 10/06/2024.
Tuy nhiên, ông Diệp Kiến L đã thanh toán được 6.120.000 đồng (gốc đã trả: 3.422.944 đồng; L1 đã trả: 2.661.056 đồng; Phí: 36.000 đồng). Từ ngày 11/09/2022, ông Diệp Kiến L đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân.
Công ty T đã liên hệ qua điện thoại đề nghị ông Diệp Kiến Lương thực H1 nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho ông Diệp Kiến L biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông Diệp Kiến L vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T.
Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng ông Diệp Kiến L vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty. Nên Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa Án giải quyết tuyên buộc ông Diệp Kiến L thanh toán cho Công ty T1 số tiền là: 76.989.114 đồng, tạm tính đến ngày 13/06/2025.
Trong đó:
- Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 28.557.056 đồng.
- Số tiền lãi trong hạn: 12.338.832 đồng.
- Số tiền lãi quá hạn: 33.490.717 đồng.
- Số tiền lãi chậm trả: 2.602.509 đồng.
* Diễn giải công thức tính lãi:
Số tiền lãi trong hạn:
= Tổng số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ
Số tiền lãi quá hạn:
= 150% x Lãi suất x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày
Số tiền lãi chậm trả:
= 10% x Số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày
Cách tính lãi trên được căn cứ tại Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Ngoài ra, Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc ông Diệp Kiến L phải thanh toán lãi quá hạn và lãi chậm trả kể từ ngày 14/06/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
* Tại phiên tòa:
Chủ tọa phiên tòa công bố: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do.
Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm; Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn khởi kiện của Công ty T, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Địa chỉ nơi cư trú của bị đơn được xác định tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự: Đại diện nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử nhận thấy, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định:
Ngày 28/06/2022, Công ty T (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T) ký Hợp đồng tín dụng số: 3322654 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Diệp Kiến L với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (Lãi suất 44%/năm). Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Diệp Kiến L theo Hợp đồng tín dụng, ông Diệp Kiến L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 10/07/2022 đến ngày 10/06/2024.
Tuy nhiên, ông Diệp Kiến L đã thanh toán được 6.120.000 đồng (gốc đã trả 3.422.944 đồng; L1 đã trả: 2.661.056 đồng; Phí 36.000 đồng). Từ ngày 11/09/2022 ông Diệp Kiến L đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân.
Xét thấy, việc ông Diệp Kiến L không thanh toán hết số nợ và các khoản phí, lãi đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, gây thiệt hại cho Công ty nên cần buộc ông L có nghĩa vụ phải thanh toán cho Công ty toàn bộ số nợ còn thiếu tính đến ngày 13/6/2025 là: 76.989.114 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 28.557.056 đồng; Nợ lãi trong hạn là 12.338.832 đồng; Nợ lãi quá hạn là 33.490.717 đồng; Nợ lãi chậm trả là 2.602.509 đồng.
Về số tiền lãi vay và các tiền phí đã được nguyên đơn tính đúng theo thỏa thuận của hai bên tại hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên yêu cầu của nguyên đơn về tiền nợ tính đến ngày xét xử và toàn bộ tiền lãi phát sinh tiếp tục tính đến khi thanh toán xong nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Ông Diệp Kiến L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 3.849.455 đồng (ba triệu tám trăm bốn mươi chín ngàn bốn trăm năm mươi lăm đồng). Trả lại cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng ;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T.
1.1. Ông Diệp Kiến L có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3322654 ngày 28/6/2022 số tiền nợ còn thiếu tính đến ngày 13/6/2025 là: 76.989.114 đồng (bảy mươi sáu triệu chín trăm tám mươi chín ngàn một trăm mười một đồng), trong đó: Nợ gốc là 28.557.056 đồng; Nợ lãi trong hạn là 12.338.832 đồng; Nợ lãi quá hạn là 33.490.717 đồng; Nợ lãi chậm trả là 2.602.509 đồng.
1.2. Việc thanh toán tiền được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
1.3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho tổ chức tín dụng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của tổ chức tín dụng cho vay.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 3.849.455 đồng (ba triệu tám trăm bốn mươi chín ngàn bốn trăm năm mươi lăm đồng) do ông Diệp Kiến L chịu. Hoàn lại cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.615.252 đồng (một triệu sáu trăm mười lăm ngàn hai trăm năm mươi hai đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0075396 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Công ty T, ông Diệp Kiến L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Anh |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN PHIÊN TÒA |
Bản án số 259/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 259/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
