Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 259/2024/HS-ST

Ngày 03-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm; bà Lê Thị Khanh.

Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh B - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (số I đường Q, thị trấn H, huyện H) mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 280/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 195/2024/HSST-QĐ ngày 05/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thị Ầ (tên gọi khác: không), sinh năm 1991 tại tỉnh Kiên Giang; giới tính: Nữ; nơi đăng ký thường trú: Ấp C xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi ở: Không ổn định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Không; con ông Danh K và bà Thị P, chồng: Không có, bị cáo có 04 con; lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc K1, sinh năm 1993

Địa chỉ: F ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1981

Địa chỉ: D đường P, ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Ông Lê Minh H, sinh năm 1988

Địa chỉ: G đường T, ấp X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 18/04/2024, Thị Ầ đi nhặt ve chai tại trước dãy nhà trọ địa chỉ F ấp M, xã T, huyện H thì phát hiện lỗ cửa phòng cuối của dãy nhà trọ không khóa nên Thị Ầ nhìn qua lỗ cửa thấy cái túi xách màu đen của bà Nguyễn Thị Ngọc K1 nên nảy sinh ý định lấy trộm túi xách. Thị Ầ luồn tay vào bên trong, thấy ổ khóa cửa không khóa nên dùng tay gỡ ổ khóa và mở cửa đi vào bên trong lấy cái túi xách và 01 điện thoại Samsung Galaxy A73 màu xanh đặt kế bên túi xách rồi đi ra khỏi phòng trọ. Sau đó, Thị Ầ gọi điện thoại cho ông Lê Minh H (bà con với Ầ) đến đón Ầ về nhà trọ nơi Ầ và H đang sống, tại số G đường T, ấp X, huyện H. Khi về đến nhà, Ầ nói với H là nhặt được túi xách, đồng thời kiểm tra túi xách thấy bên trong có 01 chiếc nhẫn vàng trơn, số tiền 550.000 đồng, giấy tờ cá nhân gồm 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Ngọc K1, 01 thẻ ATM ngân hàng A.

Đến 07 giờ 00 phút cùng ngày, Thị Ầ kêu H chở Ầ đi đến tiệm V, địa chỉ 387 đường T, xã X, huyện H rồi Ầ vào bán chiếc nhẫn của bà K1 với giá 3.500.000 đồng, còn chiếc điện thoại thì Ầ nhờ ông H đi bán giùm, lấy tiền đi mua 01 loa micro karaoke màu đồng hiệu SU YOSO. Sau đó, ông H đem điện thoại của bà K1 đi bán ở cửa hàng di động T, địa chỉ D ấp T, xã B, huyện H, bán cho Trần Văn Đ với giá 3.000.000 đồng, đi mua 01 loa micro karaoke với giá 400.000 đồng, đem về đưa cho Thị Ầ. Tất cả số tiền bán điện thoại, nhẫn và tiền của bị hại, Ầ sử dụng cho việc chuộc điện thoại di động hiệu Samsung A71 màu đen của Ầ, chi tiêu, trả nợ cho ông H 700.000 đồng, còn lại số tiền 600.000 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H số 94/KL-HĐĐGTS ngày 13/5/2024 về tài sản T chiếm đoạt là:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A73 màu xanh: 6.500.000 đồng;
  • 01 chiếc nhẫn vàng 24K, trọng lượng 05 phân: 3.630.000 đồng;
  • 01 túi xách bằng da màu xanh đen hiệu SOFIA: Không đầy đủ thông tin nên Hội đồng không có cơ sở định giá.

Tổng cộng giá trị tài sản là 10.130.000 đồng.

Qua truy xét, Cơ quan điều tra đã mời Ầ về làm việc và Ầ thừa nhận thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A73 màu xanh, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Ngọc K1, 01 thẻ ATM ngân hàng A Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc K1;

Thu giữ của bị cáo Thị Ầ:

  • Số tiền 600.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung A71 màu đen đã qua sử dụng;
  • 01 loa micro karaoke màu đồng hiệu SU YOSO.

Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Ngọc K1 đã nhận lại điện thoại, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.180.000 đồng là giá trị chiếc nhẫn và số tiền 550.000 đồng trong túi xách; ông Trần Văn Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.600.000 đồng và 01 loa micro karaoke.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã quyết định khởi tố điều tra đối với Thị Ầ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Quá trình điều tra, bị cáo Thị Ầ khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 218/CT-VKSH.HM ngày 07/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Thị Ầ về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).

Đối với Lê Minh H, Trần Văn Đ khi mua bán điện thoại không biết là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra công an huyện H không truy cứu trách nhiệm hình sự; Bà Nguyễn Thị P1 là chủ tiệm V không thừa nhận có mua nhẫn vàng của bị cáo nên không đủ căn cứ xử lý hình sự.

Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố phát biểu quan điểm:

* Qua thẩm vấn công khai và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Thị Ầ khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thị Ầ có lý lịch nêu trên phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

* Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Nhân thân: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 (mười tám) tháng.

  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015

* Về hình phạt: Căn cứ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Thị Ầ từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 19/4/2024.

* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Thị Ầ không có nghề nghiệp ổn định, không có nguồn thu nhập nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Lê Minh H, Trần Văn Đ khi mua bán điện thoại không biết là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H không truy cứu trách nhiệm hình sự; Bà Nguyễn Thị P1 là chủ tiệm V không thừa nhận có mua nhẫn vàng của bị cáo nên không đủ căn cứ xử lý hình sự.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý theo quy định.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 4.180.000 đồng (gồm giá trị chiếc nhẫn là 3.630.000 đồng và số tiền 550.000 đồng); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.600.000 đồng và nhận lại 01 loa micro karaoke màu đồng hiệu SU YOSO. Bị cáo xác nhận số tiền và đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền yêu cầu. Đối với số tiền 700.000 đồng bị cáo đưa ông H là tiền bị cáo phải trả nợ cho ông H nên bị cáo không yêu cầu ông H đưa lại, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận đồng thời buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật.

* Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

2. Tại phiên tòa, bị cáo Thị Ầ khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố, bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án yêu cầu. Đối với số tiền 700.000 đồng bị cáo đưa ông H là tiền bị cáo phải trả nợ cho ông H nên bị cáo không yêu cầu ông H đưa lại, ông H không biết số tiền do bị cáo phạm tội mà có, không có ý kiến trình bày thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi và rất hối hận về hành vi phạm pháp của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình làm lại cuộc đời, nuôi dạy các con đang còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, qua phần xét hỏi công khai và tranh luận bị cáo Thị Ầ khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, cụ thể: Ngày 18/4/2024, tại địa chỉ F ấp M, xã T, huyện H, bị cáo Thị Ầ có hành vi lén lút lấy trộm 01 túi xách bên trong 01 chiếc nhẫn, tiền và 01 điện thoại di động có tổng trị giá 10.680.000 (mười triệu sáu trăm tám mươi nghìn) đồng của bà Nguyễn Thị Ngọc K1.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Thị Ầ về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Lê Minh H, Trần Văn Đ khi mua bán điện thoại không biết là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H không truy cứu trách nhiệm hình sự; bà Nguyễn Thị P1 chủ tiệm V không thừa nhận có mua nhẫn vàng của bị cáo, không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo dư luận xấu trong xã hội, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét về nhân thân, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức hình phạt tương xứng với hành vi do bị cáo gây ra.

* Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Nhân thân: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 (mười tám) tháng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).

Với những tình tiết như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy để bảo đảm tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung nên việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhưng có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Thị Ầ không có nghề nghiệp ổn định, không có nguồn thu nhập, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đang nuôi 04 con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A73 màu xanh, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái tên Nguyễn Thị Ngọc K1, 01 thẻ ATM ngân hàng A, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho bà K1 nên Hội đồng xét xử không xem xét;
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung A71 màu đen đã qua sử dụng; số tiền 600.000 đồng là tài sản của bị cáo, bị cáo được trả lại, tuy nhiên xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có công việc, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tạm giữ để bảo đảm cho việc thi hành khoản tiền bồi thường thiệt hại về dân sự là phù hợp;
  • 01 loa micro karaoke màu đồng hiệu SU YOSO ông Trần Văn Đ có yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử trả lại cho ông Đ là phù hợp;

[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc nhẫn là 3.630.000 đồng và số tiền 550.000 đồng có trong túi xách, tổng cộng là 4.180.000 đồng; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.600.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Ầ đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền 4.180.000 đồng cho bị hại - bà Nguyễn Thị Ngọc K1; và đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền 2.600.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - ông Trần Văn Đ. Đối với 700.000 đồng bị cáo đưa ông H, ông H không biết số tiền do bị cáo phạm tội mà có, xét thấy đây là tiền bị cáo phải trả nợ cho ông H, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu ông H đưa lại. Xét thấy, bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền thiệt hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không buộc ông H nộp lại số tiền nêu trên. Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ngọc K1 toàn bộ số tiền 4.180.000 đồng; bồi thường cho ông Trần Văn Đ toàn bộ số tiền 2.600.000 đồng là đúng quy định;

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn về tội danh, hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự; xem xét đề nghị của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

[9] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017)

Xử phạt bị cáo Thị Ầ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 19/4/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Thị Ầ với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày để bảo đảm thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

  • Trả cho ông Trần Văn Đ 01 (một) loa micro karaoke màu đồng hiệu SU YOSO;
  • Trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A71 màu đen đã qua sử dụng; và số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng nhưng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tạm giữ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án;
  • Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Ngọc K1 tổng số tiền 4.180.000 (bốn triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng. Bồi thường thiệt hại cho ông Trần Văn Đ tổng số tiền 2.600.000 (hai triệu sáu trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

(Các vật chứng trên được ghi theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Thị Ầ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 339.000 (ba trăm ba mươi chín nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H.Hóc Môn;
  • - THADS H.Hóc Môn;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà tạm giữ Công an H.Hóc Môn;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 259/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 259/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger