|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 259/2024/DSPT Ngày: 12/6/2024 “V/v: T/c quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hồng Dung
- - Các thẩm phán: Bà Hà Thị Phương Thanh
- Bà Võ Bích Hải
- - Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Minh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 và 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2023/QĐXXPT-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024.
Do Bản án số 111/2022/DSST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn xử sơ thẩm có kháng cáo, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Võ Kim L, sinh năm 1976.
- Trú tại: Số A, H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1967 - Giấy ủy quyền ngày 13/3/2019 (Có mặt).
- Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- * Bị đơn: Bà Bùi Thị Cẩm T1, sinh năm 1938 (Có mặt).
- Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1935 (chết).
- Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện ủy quyền của Bị đơn: Ông Nguyễn Thái T2, sinh năm 1982 - Giấy ủy quyền ngày 18/3/2019 (có mặt)
- Địa chỉ: Số D, đường Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông Huỳnh Văn B.
- Bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1967. (Vắng mặt)
- Bà Huỳnh Ngọc D, sinh năm 1971. (Vắng mặt)
- Bà Huỳnh Kim T3, sinh năm 1977. (Vắng mặt)
- Bà Huỳnh Mai P, sinh năm 1962 (Có mặt)
- Ông Huỳnh Thanh S, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
- Ông Huỳnh Minh T4, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
- Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1965 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị X (vợ ông Đ) (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Ông Huỳnh Văn B1, sinh năm 1969 (chết 17/10/2021).
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn B1:
- - Bà Trần Cẩm H (vợ)
- - Ông Huỳnh Văn T5 (con)
- - Ông Huỳnh Văn B2 (con)
Địa chỉ: Tổ 1, ấp1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Ngô Thanh T6, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Thái T2, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số D, đường Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ (Giấy ủy quyền ngày 18/3/2019).
- Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1967 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Bà Trương Thị L1, sinh năm 1952. (Vắng mặt)
- Ông Trương Anh D1, sinh năm 1939 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Ủy Ban nhân dân quận Ô, thành phố Cần Thơ (Xin vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn Bùi Thị Cẩm T1
Ngày 12/01/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn có kháng nghị số 01/QĐ.VKS.DS kháng nghị Bản án sơ thẩm nêu trên theo thủ tục phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp trước đây thuộc thửa đất 115+116 của bà Trương Thị L1. Năm 2003, giữa bà L1 với ông Huỳnh Văn B có tranh chấp với nhau phần đất này và Tòa án đã giải quyết công nhận bà L1 là chủ sử dụng đất. Ngày 03/9/2007, bà L nhận chuyển nhượng từ bà L1 diện tích đất 149m² với giá 154.000.000 đồng, bà L đã giao đủ tiền chuyển nhượng đất cho ông Trương Anh D1 (được bà L1 ủy quyền) và nhận đất sử dụng, việc mua bán có làm giấy tay. Do bà L1 phải làm thủ tục điều chỉnh thửa đất xong mới có thể làm thủ tục chuyển nhượng cho bà L nên đến năm 2010 giữa các bên mới hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. Ngày 21/5/2010, bà L1 ủy quyền cho ông Trương Anh D1 ký hợp đồng chuyển nhượng với bà Võ Kim L tại Văn phòng C2 với giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng. Bà L giao tiền cho ông D1 tại Văn phòng công chứng nhưng không có làm biên nhận. Sau đó bà L được Ủy ban nhân dân quận Ô cấp Giấy chứng nhận QSD đất số CH00430 ngày 03/6/2010, thửa đất số 777, tờ bản đồ số 03, diện tích 149m², đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Sau khi viết giấy mua bán tay, đến tháng 10/2007, bà L tiến hành bơm cát san lấp mặt bằng và xây dựng tường rào nhưng gia đình ông B, bà T1 tự ý đập phá tường rào và đã bị xử lý hình sự. Năm 2011, gia đình ông B, bà T1 và các con là Huỳnh Mai P và Huỳnh Văn Đ ngang nhiên xây dựng 02 căn nhà bằng gỗ tạp trên phần đất của bà L. Sau khi phát hiện, bà L có yêu cầu ông B, bà T1 tháo dỡ để trả lại đất nhưng ông B và bà T1 không thực hiện. Nay Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông B và bà T1 tháo dở nhà trả lại cho bà L toàn bộ diện tích đất 149m². Bà L không hỗ trợ di dời hay bồi thường gì cho phía gia đình ông B, bà T1.
*Đại diện ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Thái T2 có đơn phản tố trình bày: Phần đất tranh chấp là của gia đình ông B, bà T1 sử dụng từ năm 1930. Nguồn gốc đất ban đầu là của cụ Nguyễn Nhựt H1 (còn gọi là ông giáo H1), cha ông Bé là cụ Huỳnh Văn C1 làm công cho cụ H1 nên cụ H1 cho cụ C1 phần đất này và sau này cụ C1 để lại cho ông B sử dụng đến nay. Năm 1950, cha mẹ của bà Trương Thị L1 đến thuê đất của cụ H1 làm lò gạch, khi cha mẹ bà L1 qua đời thì bà L1 tiếp tục sử dụng, cho đến năm 1991 thì bà L1 tự ý kê khai cấp Giấy chứng nhận QSD đất bao trùm luôn cả phần đất của gia đình ông B sử dụng, trong đó có phần đất đang tranh chấp mà trước kia là cái hầm trước cửa nhà ông B cặp sông. Quá trình sử dụng gia đình ông B đã bồi lấp cách đây khoảng hơn 30 năm và có trồng cây, cất nhà bếp để nấu ăn. Đến năm 2010, bà Trương Thị L1 chuyển nhượng phần đất này cho cho bà Võ Kim L, ông B, bà T1 hoàn toàn không hay biết. Nay bà L yêu cầu gia đình ông B, bà T1 tháo dỡ nhà trả lại cho bà L toàn bộ diện tích đất 149m² là không hợp lý nên bị đơn không đồng ý. Ngoài ra, bị đơn có yêu cầu phản tố về việc hủy các Giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho bà L1 và bà L.
Ngày 07/6/2022 TAND quận Ô Môn có nhận được đơn phản tố bổ sung của bà Bùi Thị Cẩm T1, Huỳnh Thị C, Huỳnh Văn B1, Huỳnh Ngọc D, Huỳnh Mai P, Huỳnh Thanh S, Huỳnh Minh T4, Huỳnh Kim T3, Huỳnh Văn Đ về việc yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận QSD đất số 00227 do UBND huyện Ô cấp ngày 24/02/2003 cho hộ bà Trương Thị L1, thửa đất số 556, 558, 115, 116, 118, tờ bản đồ số 2, diện tích 6.475m², đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô.
Yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 21/5/2010 được ký giữa hộ bà Trương Thị L1 (có ủy quyền cho ông Trương Anh D1) và bà Võ Kim L đối với thửa đất 777, tờ bản đồ số 3, diện tích 149m², theo Giấy chứng nhận QSD đất số CH00348 ngày 19/5/2010 do bà Trương Thị L1 đứng tên sử dụng. Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng 24h.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị L1 trình bày: Nguồn gốc đất là của bà, bà được UBND quận Ô cấp Giấy chứng nhận QSD đất vào năm 2010 bao gồm cả phần đất của vợ chồng ông B, bà T1 đang sử dụng. Ông Trương Anh D1 là anh ruột của bà nên bà đã ủy quyền cho ông D1 thay bà quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến phần đất của bà. Việc yêu cầu điều chỉnh Giấy chứng nhận QSD đất cũng như việc chuyển nhượng đất cho bà L đều do ông D1 thực hiện, bà không biết vì thời gian đó bà sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Phía ông B, bà T1 phản tố yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất của bà, bà không có ý kiến vì mọi việc bà đã ủy quyền cho ông D1 thực hiện.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Anh D1 trình bày: Ông là anh ruột của bà L1. Năm 2010, bà L1 có làm tờ Hợp đồng ủy quyền cho ông thay mặt bà L1 quyết định mọi vấn đề liên quan đến phần đất của bà L1, nên ngày 21/5/2010 ông đã ký Hợp đồng chuyển nhượng cho bà Võ Kim L phần đất diện tích 149m², thửa 777, Giấy chứng nhận QSD đất số CH000348 cấp ngày 19/5/2010 do bà L1 đứng tên, với giá 50.000.000 đồng. Ông đã nhận đủ tiền, tiền này ông không giao cho bà L1 mà dùng làm chi phí đi lại cho các vụ kiện khác của bà L1. Ông đã giao đất và làm thủ tục chuyển QSD đất cho bà L xong. Nay ông không đồng ý với yêu cầu của ông B, bà T1 về việc yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho bà L1 và bà L. Bởi vì nguồn gốc đất này là do mẹ ông là cụ Nguyễn Thị N được bà Trần Thị H2 (vợ ông Giáo H3) ủy quyền để sử dụng phần đất này. Gia đình ông đã nộp thuế đầy đủ và được UBND quận Ô cấp Giấy chứng nhận QSD đất theo qui định.
Tại phiên tòa sơ thẩm Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố.
Tại Bản án sơ thẩm số 111/2022/DSST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Kim L.
- Buộc bà Bùi Thị Cẩm T1, bà Huỳnh Thị C, bà Huỳnh Ngọc D, bà Huỳnh Kim T3, bà Huỳnh Mai P, ông Huỳnh Thanh S, ông Huỳnh Minh T4, ông Huỳnh Văn Đ, ông Huỳnh Văn B1 tháo dỡ, di dời căn nhà và vật kiến trúc trên đất để trả lại cho bà Võ Kim L diện tích đất 149m², thửa đất số 777, tờ bản đồ số 03. Đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, Tp . theo Giấy chứng nhận QSD đất số CH00430 cấp ngày 03/6/2010 do bà Võ Kim L đứng tên, theo bản trích đo địa chính số 78/TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Bùi Thị Cẩm T1, bà Huỳnh Thị C, bà Huỳnh Ngọc D, bà Huỳnh Kim T3, bà Huỳnh Mai P, ông Huỳnh Thanh S, ông Huỳnh Minh T4, ông Huỳnh Văn Đ, ông Huỳnh Văn B1 về việc:
- - Hủy Giấy chứng nhận QSD đất số CH00348 do UBND quận Ô cấp ngày 19/5/2010 cho bà Trương Thị L1 đứng tên chủ hộ.
- - Hủy Giấy chứng nhận QSD đất số CH00430 do UBND quận Ô cấp ngày 03/6/2010 cho bà Võ Kim L đứng tên chủ sử dụng.
- Buộc Nguyên đơn bà Võ Kim L trả cho Bị đơn số tiền giá trị cây trồng trên đất 7.238.000 đồng (Bảy triệu hai trăm ba mươi tám ngàn đồng). Nguyên đơn được sử dụng các cây trồng gồm: Dừa loại A: 04 cây, Dừa loại B: 04 cây; Dừa loại C: 12 cây; Mít loại A: 01 cây; Mít loại B: 04 cây; Xoài loại B: 04 cây; Xoài loại C: 03 cây; Mận loại A: 01 cây; Gáo loại A: 01 cây; Gòn loại A: 01 cây; Chuối loại B: 02 cây.
(Kèm theo bản trích đo địa chính số 78/TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C)
Ngoài ra bản án còn tuyên về án, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo theo qui định.
Ngày 10/01/2023 Bị đơn Bùi Thị Cẩm T1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm. Đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Bị đơn, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Tại quyết định kháng nghị số 01 ngày 12/01/2023 của Viện trưởng VKSND quận Ô Môn đã kháng nghị toàn bộ Bản án sơ thẩm, cho rằng Bản án sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng từ việc chưa thu thập đánh giá chứng cứ đầy đủ để đưa xét xử là chưa đảm bảo quyền lợi của các bên. Đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung kháng nghị. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Nhận xét và đề nghị của kiểm sát viên:
- - Về tố tụng: Thẩm phán – chủ tọa, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo qui định.
- - Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ, xác minh thu thập chứng cứ theo nhận định của Quyết định giám đốc thẩm có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Đối với kháng nghị nhận thấy: Quá trình Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết, Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xác minh theo nội dung yêu cầu của kháng nghị. Tại biên bản xác minh ngày 24/11/2023 tại UBND phường T đối với ông Nguyễn Văn B3 (trưởng khu vực thời điểm 2003 – 2008), nội dung: “Phần đất tranh chấp trước đây là cái ao ông Huỳnh Văn B có sử dụng nuôi cá. Sau đó bà Trương Thị L1 được cấp GCNQSDĐ. Bà L1 ủy quyền cho ông D1 chuyển nhượng cho bà Võ Kim L. Sau khi chuyển nhượng bà L có san lấp phần ao mương như hiện trạng hiện nay. Hiện tại phần đất tranh chấp có 01 căn nhà tạm của ông Huỳnh Văn Đ (con ông B) đang sinh sống cùng vợ bà Nguyễn Thị X. Gia đình ông B hiện tại đang sử dụng phần đất phía trên lộ có nguồn gốc từ cụ T7 (cha ông Bé) ở nhờ của cụ H3 từ rất lâu. Sau khi cụ T7 mất thì gia đình ông B sử dụng liên tục từ đó đến nay. Phần đất này hiện nay ông B đã có nhà cấp 4 trên phần đất và không liên quan đến phần đất tranh chấp”. Từ kết quả xác minh trên cho thấy, phần đất Bị đơn cho rằng đã sử dụng liên tục ổn định từ năm 1930, không phải phần đất bà L1 được cấp GCNQSDĐ trước đây và không phải là phần đất hiện tại các bên đang tranh chấp. Như vậy, việc bà L1 được cấp GCNQSDĐ và ủy quyền cho ông D1 ký chuyển nhượng cho bà L là đúng quy định pháp luật. Cho thấy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn có cơ sở chấp nhận. Và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đã được chấp nhận một phần về thu thập chứng cứ. Kháng cáo của Bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn, sửa bản án sơ thẩm, ghi nhận sự tự nguyện của Nguyên đơn hỗ trợ chi phí di cho Bị đơn. Đồng thời, điều chỉnh phần tuyên của Bản án, buộc người đang quản lý và sử dụng nhà đất là ông Đ, bà X phải có trách nhiệm di dời căn nhà trả đất cho Nguyên đơn.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ đơn khởi kiện và các chứng cứ có trong hồ sơ cho thấy tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp QSD đất” giữa cá nhân với cá nhân. Tranh chấp này được Bộ luật dân sự, Luật đất đai điều chỉnh, các đương sự và đất tranh chấp tọa lạc tại quận Ô nên cấp sơ thẩm xác định tranh chấp QSD đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26; Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
[2] Về tố tụng: Ông Huỳnh Văn B1 chết trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, nhưng đến giai đoạn xét xử phúc thẩm đương sự mới cung cấp chứng tử ông B1, khi đó cấp phúc thẩm lập biên bản làm việc với bà Cẩm T1 (mệ ông B1) về người thừa kế của ông B1 gồm có vợ và con của ông B1, cụ thể bà Trần Cẩm H (vợ) và hai con là Huỳnh Văn T5, Huỳnh Văn B2. Vì vậy đã đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người thừa kế của ông B1. Theo đó bà Cẩm T1 xác định từ trước đến nay gia đình ông B1 không có sinh sống tại phần đất tranh chấp, ngoài ra bà Nguyễn Thị X là vợ của ông Đ cùng sinh sống tại căn nhà trên đất tranh chấp nên đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đối với các con ông Đ hiện tại không có mặt tại phần đất tranh chấp nên không đưa vào tham gia tố tụng.
[3] Về nội dung tranh chấp:
Nguyên đơn bà Võ Kim L khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn B, bà Bùi Thị Cẩm T1 phải tháo dỡ nhà, trả lại đất cho bà có diện tích 149m² tại thửa 777, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn phản tố cho rằng nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Nhựt H1, cha của bị đơn là ông Huỳnh Văn T8 làm công cho ông H1, ông H1 cho cha Bị đơn phần đất này từ năm 1930 và sau này cha Bị đơn để lại cho Bị đơn sử dụng ổn định, lâu dài cho đến nay, nên Bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Ngày 07/6/2022 Bị đơn bổ sung yêu cầu phản tố:
- -Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất số 00227 do UBND huyện Ô cấp ngày 24/02/2003 cho hộ bà Trương Thị L1, thửa đất số 556, 558, 115, 116, 118, tờ bản đồ số 2, diện tích 6.475m², đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô.
- - Yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 21/5/2010 được ký giữa hộ bà Trương Thị L1 (có ủy quyền cho ông Trương Anh D1) và bà Võ Kim L đối với thửa đất 777, tờ bản đồ số 3, diện tích 149m², theo Giấy chứng nhận QSD đất số CH00348 ngày 19/5/2010 do bà Trương Thị L1 đứng tên sử dụng. Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng 24h.
Xét thấy, đối với hai yêu cầu phản tố bổ sung của Bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật TTDS “3. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.” Như vậy, thời điểm phản tố có sau khi Tòa sơ thẩm công bố chứng cứ, nên yêu cầu này không còn thời hạn để phản tố. Mặc khác, theo đơn phản tố bổ sung đã vượt quá nội dung khởi kiện và phản tố ban đầu. Vì vậy cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố bổ sung ngày 07/6/2022 của phía Bị đơn là phù hợp.
Đối với căn nhà ông Huỳnh Văn Đ xây dựng vào khoảng năm 2000 theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2019 thì đây là căn nhà tạm, không còn giá trị sử dụng, đây là căn nhà bếp để nấu ăn của gia đình bà B. Đồng thời, vào thời điểm xây dựng đã bị chính quyền địa phương xử phạt do xây dựng không đúng quy định. Mặc khác, vào ngày 26/8/2022 Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ để xác định lại hiện trạng căn nhà cũng như các tài sản khác trên đất nhưng phía Bị đơn ngăn cản không đồng ý cho thẩm định, nên không tiến hành thủ tục thẩm định. Do đó, việc ông Đ cho rằng căn nhà của ông có vợ chồng ông và các con ông sinh sống là chưa có cơ sở.
[3.1] Xét thấy, phần đất tranh chấp có nguồn gốc từ ông Nguyễn Nhựt H1 (G). Ngày 04/01/1961 bà Nguyễn Thị N (mẹ của bà Trương Thị L1) có lập Hợp đồng thuê đất của ông Giáo H3 để làm lò gạch từ năm 1960 đến năm 1965. Ngày 23/02/1971 bà Trần Thị H2 (vợ ông Giáo H3) có làm tờ ủy quyền với nội dung “bà H2 tiếp tục cho bà N thuê đất làm lò gạch, thời hạn thuê là 10 năm, diện tích đất 03ha trong số 19ha09,00. Hiện nay sân nền gạch cũ và ruộng đất đều bị cấp phát theo luật người cày có ruộng.... vì bận công việc nên tôi bằng lòng làm tờ ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N được QSD và đứng ra thay mặt tôi khi có quận, tỉnh hay xã đòi về phần đất này là 03ha00 để lấy đất làm gạch”. Như vậy, bà L1 có QSD và giải quyết các tranh chấp đối với diện tích đất này cho đến năm 1975. Sau năm 1975, diện tích đất này được bà L1 đăng ký trong sổ đăng ký ruộng đất. Đến năm 1991 bà Trương Thị L1 đi kê khai phần đất và được bà H2 vợ ông Giáo H3 cho QSD. Bà L1 được UBND huyện Ô (cũ) cấp Giấy chứng nhận QSD đất số 002678 ngày 15/10/1991. Ngày 24/02/2010 bà L1 lập thủ tục chỉnh lý điều chỉnh hình thể và diện tích đất và được UBND quận Ô cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất cho bà L1 trong đó có Giấy chứng nhận QSD đất số CH00348 ngày 19/5/2010, tờ bản đồ số 03, thửa 777, diện tích 149m², điều chỉnh hợp từ thửa 115 và 116 Giấy chứng nhận QSD đất số 00227 ngày 24/02/2003.
Mặc khác, Bị đơn không xuất trình được chứng cứ ông Giáo H3 cho ở nhờ và sử dụng diện tích đất cụ thể bao nhiêu. Mặt khác Bị đơn cũng không có giấy tờ gì do chế độ cũ hay Nhà nước cấp QSD đất sau giải phóng. Trên thực tế Bị đơn cũng không chứng minh được việc Bị đơn đã sử dụng phần đất liên tục, ổn định từ trước đến nay.
Tại phiên toà đại diện Bị đơn thừa nhận Bị đơn được ông Giáo H3 cho diện tích đất này nhưng không có giấy tờ hay tài liệu gì chỉ nói miệng và không ai chứng kiến. Ngoài ra, Bị đơn cũng hiểu rõ việc Nhà nước cho đăng ký, kê khai QSD đất theo Luật đất đai nhưng Bị đơn không kê khai, không làm nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, có thể hiểu rằng do Bị đơn chỉ là ở nhờ trên đất của người khác mà nếu có đăng ký, kê khai cũng không được Nhà nước công nhận QSD.
Theo trình bày của UBND quận Ô thì diện tích đất các bên đang tranh chấp không phải đất do Nhà nước quản lý mà là của cá nhân sử dụng. UBND quận Ô đã xem xét các quy trình, trình tự và thủ tục để cấp QSD đất cho bà L1 là đúng quy định của pháp luật, nên việc Bị đơn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất số CH00348 ngày 19/5/2010 và Giấy chứng nhận QSD đất số CH00430 ngày 03/6/2010 là không có căn cứ. Do bà L1 là chủ sử dụng hợp pháp phần đất này, nên có quyền chuyển nhượng cho người khác theo luật định. Như vậy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà Võ Kim L với đại diện ủy quyền của bà L1 là ông Trương Anh D1 tuân thủ đúng trình tự thủ tục qui định và được chứng thực là đúng pháp luật và bà Võ Kim L đã được cấp Giấy chứng nhận QSD đất số CH00430 ngày 03/6/2010 là phù hợp.
[3.2] Theo Quyết định giám đốc thẩm số 92/2017/DS-GĐT ngày 27/12/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh cho rằng phần đất đang tranh chấp có nằm trong Giấy chứng nhận QSD đất của bà L hay không, làm rõ vị trí đất. Trên cơ sở thu thập chứng cứ thể hiện:
Căn cứ theo bản trích đo địa chính số 78/TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện rõ phần đất đang tranh chấp nằm trong thửa 777, diện tích 149m², tờ bản đồ số 03 do bà Võ Kim L đứng tên Giấy chứng nhận QSD đất.
Tại biên bản xác minh ngày 24/11/2022 của TAND quận Ô Môn thể hiện Bị đơn sinh sống tại khu vực Thới Lợi từ trước năm 1940 đến nay. Bị đơn có căn nhà phía trước phần đất tranh chấp, phần đất tranh chấp trước đây là đất cái ao cặp đất bãi bồi, gia đình Bị đơn có be thêm một cái bờ cặp song để giữ cái ao không cho xạc lỡ xuống sông, sau này được bà L bồi đắp ao, hiện nay là phần đất liền không còn hiện trạng ao như trước. Qua xác minh cho thấy phần đất Bị đơn cho rằng sử dụng ổn định từ năm 1930 không phải là phần đất bà L1 được cấp giấy trước đây và không phải là phần đất các bên đang tranh chấp. Phần đất tranh chấp từ trước là cái ao, không có nhà cửa cây trồng, sau này đến khi bà L chuyển nhượng lại của bà L1 thì bà L mới bồi đắp bằng phẳng như hiện nay, và hiện tại có căn nhà tạm của ông Đ, bà X đang sử dụng.
[4] Căn cứ vào các nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát đã nêu, cấp phúc thẩm tiến hành thu thập chứng cứ.
Căn cứ biên bản xác minh ngày 24/11/2023 thể hiện: Đất tranh chấp là cái ao, trước đây ông B có sử dụng nuôi cá trước đó, nhưng sau đó bà L1 được cấp Giấy chứng nhận QSD đất và chuyển nhượng lại bà L, bà L đã bồi đắp như hiện trạng hiện nay. Như vậy về phía gia đình ông B không có giấy tờ gì chứng minh ông là người sử dụng hợp pháp nên không có cơ sở để xem xét.
Phần đất gia đình ông B đang sử dụng phần đất có nguồn gốc từ cụ T8 cha ông Bé ở nhờ của cụ H4 từ rất lâu, khi cụ T8 mất gia đình ông B sử dụng liên tục đã có nhà cấp 4 trên đất, phần đất và căn nhà này không liên quan đến phần đất tranh chấp giữa bà L với bà T1, ông B hiện nay. Mặt khác đối với phần đất tranh chấp thời điểm bà L1 được cấp Giấy chứng nhận năm 1991, cấp đổi giấy năm 2003, năm 2010 cho đến thời điểm chuyển nhượng cho bà L và bà L được cấp Giấy chứng nhận ngày 03/6/2020 phía Bị đơn không có ý kiến và không khiếu nại gì về việc cấp giấy cho bà L1, bà L. Bị đơn cho rằng sử dụng đất từ năm 1930, nhưng quá trình sử dụng Bị đơn không thực hiện việc kê khai, không thực hiện nghĩa vụ thuế cho Nhà nước, từ đó cho thấy việc Bị đơn chỉ sử dụng nhờ phần đất này là thật. Thực tế hiện nay phần đất tranh chấp có nhà tạm của ông Đ và bà X đang sử dụng.
Ngoài ra theo thông tin của cán bộ địa chính phường T xác định thửa đất 777, tờ bản đồ số 03 toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, TPCT tại giấy CNQSD đất số BA 723230 do UBND quận Ô cấp cho bà Võ Kim L ngày 03/6/2010 tách từ thửa 115 cũ, tờ bản đồ số 02 theo Chỉ thị 299 ngày 06/7/1992.
Như vậy trên cơ sở xem xét tài liệu chứng cứ, xác minh nguồn gốc đất và lời trình bày của các đương sự trong vụ án cho thấy yêu cầu phản tố của Bị đơn là không có cơ sở chấp nhận. Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Vì vậy chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát về thu thập chứng cứ. Theo kết quả xác minh hiện tại phần đất tranh chấp có căn nhà tạm của ông Đ và bà X đang sử dụng nên cần buộc ông bà tháo dỡ di dời để giao trả phần đất cho Nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời là 5.000.000 đồng cần ghi nhận.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn.
Về việc Bị đơn đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và công nhận yêu cầu phản tố của Bị đơn đối với phần đất tranh chấp, thấy rằng Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác để chứng minh, qua xác minh thu thập chứng cứ tại cấp phúc thẩm thể hiện rõ nguồn gốc đất tranh chấp là của bà L1, bà L1 chuyển nhượng lại bà L và hiện trạng sử dụng đất của các bên cho thấy yêu cầu kháng cáo và lời nại của Bị đơn chưa có cơ sở vững chắc để xem xét. Vì vậy không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn, cần sửa một phần Bản án sơ thẩm về trách nhiệm của người đang sử dụng phải di dời căn nhà, thời hạn di dời nhà để giao trả đất cho Nguyên đơn trong hạn 03 tháng, ghi nhận tự nguyện hỗ trợ di dời của Nguyên đơn. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát về việc thu thập thêm chứng cứ và bổ sung bà X là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo nội dung kháng nghị.
[6] Về cây trồng trên đất được giữ nguyên theo bản án sơ thẩm. Nguyên đơn phải trả lại giá trị cây trồng cho bị đơn là 7.238.000 đồng theo Biên bản định giá ngày 21/8/2019 và Nguyên đơn được QSD các loại cây trồng này.
[7] Chi phí đo đạc, thẩm định, định giá và lệ phí trích đo địa chính: Tổng chi phí đo đạc, thẩm định và chi phí trích đo 02 lần là 8.226.000 đồng. Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo qui định, nhưng được miễn theo quy định của pháp luật do là người cao tuổi.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của Bị đơn bà Cẩm T1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí, do bà Cẩm T1 là người cao tuổi nên được miễn theo qui định.
[10] Quan điểm của Viện kiểm sát: Nhận xét và đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- - Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của Bùi Thị Cẩm T1.
- - Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bùi Thị Cẩm T1.
- - Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô về thu thập chứng cứ.
Sửa một phần bản án sơ thẩm.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Kim L.
- Buộc ông Huỳnh Văn Đ, bà Nguyễn Thị X phải tháo dỡ, di dời căn nhà và vật kiến trúc trên đất để trả lại cho bà Võ Kim L diện tích đất 149m², thửa đất số 777, tờ bản đồ số 03. Đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, Tp . theo Giấy chứng nhận QSD đất số CH00430 cấp ngày 03/6/2010 do bà Võ Kim L đứng tên trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 12/6/2024 (Kèm Trích đo địa chính số 78/TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyên đơn hỗ trợ chi phí di dời cho ông Huỳnh Văn Đ, bà Nguyễn Thị X số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Bùi Thị Cẩm T1, bà Huỳnh Thị C, bà Huỳnh Ngọc D, bà Huỳnh Kim T3, bà Huỳnh Mai P, ông Huỳnh Thanh S, ông Huỳnh Minh T4, ông Huỳnh Văn Đ, người thừa kế của ông Huỳnh Văn B1 về việc: Hủy Giấy chứng nhận QSD đất số CH00348 do UBND quận Ô cấp ngày 19/5/2010 cho bà Trương Thị L1 đứng tên chủ sử dụng; Hủy Giấy chứng nhận QSD đất số CH00430 do UBND quận Ô cấp ngày 03/6/2010 cho bà Võ Kim L đứng tên chủ sử dụng.
- Buộc Nguyên đơn bà Võ Kim L hoàn trả cho Bị đơn số tiền giá trị cây trồng trên đất 7.238.000 đồng (Bảy triệu hai trăm ba mươi tám ngàn đồng). Nguyên đơn được sử dụng các cây trồng trên đất theo Trích đo địa chính số 78/TTKTTNMT ngày 27/11/2019 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Bùi Thị Cẩm T1 là người cao tuổi được miễn theo quy định của pháp luật.
Trả lại cho bà Võ Kim L 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 000731 ngày 09/10/2014 và 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 009656 ngày 13/6/2016 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn.
- Về chi phí đo đạc, thẩm định và lệ phí trích đo địa chính: Buộc Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn 8.226.000 đồng (Tám triệu hai trăm hai mươi sáu ngàn đồng).
- Về án phí dân phúc thẩm: Bà Bùi Thị Cẩm T1 là người cao tuổi nên được miễn theo qui định.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 12/6/2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Dung |
13
Bản án số 259/2024/DSPT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 259/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa một phần bản án sơ thẩm
