Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 259/2023/HSST

Ngày: 28/11/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Quang Hoạch.

2. Ông Doãn Đức Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án của

Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng

Nai: Ông Vòng A Chi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 276/2023/HSST ngày 03 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Phạm Ngọc T, sinh năm 1984 tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1956 và Trịnh Thị T2, sinh năm 1959; có vợ tên: Nguyễn Thị P, sinh năm 1983 và có 02 con (Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 31/7/2023 đến ngày 10/8/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).

2/ Bùi Văn T3, sinh năm 1990 tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Duy H, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị V, sinh năm 1968; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 31/7/2023 đến ngày 10/8/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).

3/ Đặng Văn Á, sinh năm 1985 tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn L, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị K, sinh năm 1957; có vợ tên: Ngô Thị P1, sinh năm 1980 và có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 31/7/2023 đến ngày 10/8/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).

4/ Đặng Đình C, sinh năm 1977 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Thanh T4, sinh năm 1940 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1945; có vợ tên: Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1984 và có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 31/7/2023 đến ngày 10/8/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).

5/ Đào Văn T5, sinh năm 1991, tại Hà Nội; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T6, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1955; có vợ tên: Bùi Cẩm L2, sinh năm 1993 và có 02 con (Con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 31/7/2023 đến ngày 10/8/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).

6/ Phạm Xuân D, sinh năm 1990, tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức C1, sinh năm 1961 và bà Vũ Thị M, sinh năm 1960; có vợ tên: Lường Thị T7, sinh năm 1990 và có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 01 (Ngày 04/6/2008, bị tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong ngày 30/8/2010(Đã được xóa án tích)), bị cáo bị giam giữ từ ngày 31/7/2023 đến ngày 10/8/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).

-Người làm chứng: Ông Nguyễn Trung H2 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 40 phút ngày 31/7/2023, Phạm Ngọc T, Đặng Văn Á, Đào Văn T5, Phạm Xuân D, Đặng Đình C và Bùi Văn T3 đều là tài xế lái xe ôtô đến ăn cơm tại quán “Cơm 89” thuộc ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau khi ăn cơm xong, T thấy T3 đang cầm bộ dụng cụ xóc đĩa nên T rủ T3 chơi xóc đĩa mỗi ván đặt 50.000 đồng, T là người làm cái, sau đó thì có Á, T5, D, C và một số đối tượng khác (không rõ nhân thân lai lịch) đến cùng tham gia. Dụng cụ đánh bạc đã có trong quán (không biết do ai đem đến), gồm 04 con bài vị hình tròn (có 02 mặt trắng và vàng) được cắt từ gói thuốc lá, 01 cái chén và 01 cái đĩa bằng sứ để làm dụng cụ đánh xóc đĩa ăn tiền, hình thức đánh bạc là người cầm cái dùng 04 con bài vị được để trên 01 cái đĩa, dùng 01 cái chén úp lên đĩa rồi xóc. Quy ước đánh bạc có 02 cửa chẳn và lẻ (nếu cả bốn con bài vị cùng một mặt hoặc có 02 con bài vị cùng mặt thì gọi là chẳn, các trường hợp khác gọi là lẻ), tỉ lệ thắng thua 1:1 người làm cái xóc đĩa ăn thua trực tiếp với các con bạc. T là người làm cái thắng thua trực tiếp với các con bạc, mỗi ván bạc đặt từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 35 phút cùng ngày, khi T, T3, Á, T5, D, C và một số đối tượng khác đang đánh bạc thì lực lượng Công an xã B, huyện T tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ các vật chứng gồm: thu trên chiếu bạc 01 bộ dụng cụ xóc đĩa (01 các đĩa bắng sứ, 01 cái chén bằng sứ, 04 con bài vị hình tròn hai mặt màu trắng – vàng) và số tiền 4.450.000 đồng; thu trên người các đối tượng đánh bạc số tiền 1.740.000 đồng và 05 điện thoại di động gồm (gồm 01 điện thoại hiệu Iphone XS, 01 điện thoại hiệu Iphone 11, 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro, 01 điện thoại hiệu Samsung A51 và 01 điện thoại hiệu Oppo A96). Lực lượng Công an xã B, huyện T đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và chuyển hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

- Phạm Ngọc T khai nhận vào khoảng 12 giờ 40 phút ngày 31/7/2023, T đến quán “Cơm 89” thuộc ấp T, xã B, huyện T để ăn cơm, sau đó thấy Bùi Văn T3 đang cầm 01 bộ dụng cụ xóc đĩa nên cả hai rủ nhau đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền, sau đó T làm cái xóc đĩa để T3 đặt tiền, một lúc sau thì Đặng Đình C, Phạm Xuân D, Đào Văn T5, Đặng Văn Á và một số đối tượng khác đến tham gia đánh bạc cùng. T mang theo và sử dụng 3.000.000 đồng để làm cái đánh bạc, quá trình đánh bạc Thạch thua 2.500.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ 500.000 đồng trên chiếu bạc và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS.

- Bùi Văn T3 khai nhận vào khoảng 12 giờ 40 phút ngày 31/7/2023, T3 đến quán “Cơm 89” thuộc ấp T, xã B, huyện T để ăn cơm, sau đó T3 thấy 01 bộ dụng cụ xóc đĩa ở gầm bàn uống nước trong quán nên lấy ra, sau đó T3 và T rủ nhau đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền. T là người làm cái còn T3 đặt tiền, một lúc sau có C, D, T5, Á và một số đối tượng đến tham gia đánh bạc cùng. Tuệ mang theo và sử dụng 1.350.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Tuệ thắng 200.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ 500.000 đồng trên chiếu bạc; 1.050.000 đồng trong người.

- Đặng Văn Á khai nhận sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc, đặt mỗi ván 50.000 đồng đến 200.000 đồng, quá trình đánh bạc Á thắng 1.000.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ 2.000.000 đồng trên chiếu bạc và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11.

- Đặng Đình C khai nhận đem mang theo 590.000 đồng và sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, đặt mỗi ván 100.000 đồng, quá trình đánh bạc C thua 100.000 đồng, bị tạm giữ 400.000 đồng trên chiếu bạc; 90.000 đồng trong người và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51.

- Đào Văn T5 khai nhận sử dụng 450.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Thinh thắng 600.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ 1.050.000 đồng trên chiếu bạc và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro.

- Phạm Xuân D khai nhận mang theo 800.000 đồng và sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt 02 ván, mỗi ván 100.00 đồng và bị thua 200.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ 600.000 đồng trong người và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A96.

Ngày 09/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố các bị cáo Phạm Ngọc T, Đặng Văn Á, Đào Văn T5, Phạm Xuân D, Đặng Đình C và Bùi Văn T3 về tội “Đánh bạc”. Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo T, Á, T5, C và T3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, không có người tổ chức, tất cả các bị cáo đều là người thực hiện hành vi phạm tội với vai trò như nhau.

Đối với số tiền 690.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc (trong đó 90.000 đồng của Đặng Đình C và 600.000 đồng của Phạm Xuân D); 05 điện thoại di động gồm (gồm 01 điện thoại hiệu Iphone XS, 01 điện thoại hiệu Iphone 11, 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro, 01 điện thoại hiệu Samsung A51 và 01 điện thoại hiệu Oppo A61) đã thu giữ. Do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu.

Tại Cáo trạng số: 270/CT-VKS-HS ngày 30/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Phạm Ngọc T, Bùi Văn T3, Đặng Văn Á, Đặng Đình C, Đào Văn T5, Phạm Xuân D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo Phạm Ngọc T, Bùi Văn T3, Đặng Văn Á, Đặng Đình C, Đào Văn T5 mức án từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); xử phạt bị cáo Phạm Xuân D mức án từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) đến 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng thời gian 12 giờ 40 phút đến 13 giờ 25 phút ngày 31/7/2023, tại quán “Cơm 89” do ông Nguyễn Trung H2 làm chủ thuộc ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phạm Ngọc T, Bùi Văn T3, Đặng Văn Á, Đặng Đình C, Đào Văn T5, Phạm Xuân D và một số người khác có hành vi đánh bạc thắng thua được bằng tiền, hình thức đánh bạc “Xóc đĩa” với tổng số tiền đánh bạc là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng). Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Phạm Ngọc T, Bùi Văn T3, Đặng Văn Á, Đặng Đình C, Đào Văn T5, Phạm Xuân D đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, nhưng chỉ dừng lại ở tính chất giản đơn. Các bị cáo là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội và có vai trò ngang nhau. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Đối với các bị cáo T, T3, Á, C, T5 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[4]. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.500.000 đồng.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ “Xóc đĩa” gồm: 01 cái đĩa bằng sứ, 01 cái chén bằng sứ, 04 con bài vị hình tròn đường kính 1,5cm có 02 mặt trắng và vàng.

[5]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7]. Đối với ông Nguyễn Trung H2 là chủ quán “Cơm 89” nơi các bị cáo đánh bạc, do ông H2 không có vai trò đồng phạm đánh bạc với các bị cáo trong vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý.

Đối với một số người khác tham gia đánh bạc nhưng đã bỏ chạy thoát, do hiện nay chưa xác định được lai lịch nhân thân nên đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    - Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc T, Bùi Văn T3, Đặng Văn Á, Đặng Đình C, Đào Văn T5 phạm tội: “Đánh bạc”.

    - Xử phạt:

    • + Bị cáo Phạm Ngọc T 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
    • + Bị cáo Bùi Văn T3 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
    • + Bị cáo Đặng Văn Á 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
    • + Bị cáo Đặng Đình C 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
    • + Bị cáo Đào Văn T5 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    - Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân D phạm tội: “Đánh bạc”.

    - Xử phạt: bị cáo Phạm Xuân D 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

  3. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm ngàn đồng)

    - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ “Xóc đĩa” gồm: 01 cái đĩa bằng sứ, 01 cái chén bằng sứ, 04 con bài vị hình tròn đường kính 1,5cm có 02 mặt trắng và vàng

    (Toàn bộ vật chứng nêu trên đang được tạm giữ theo Biên lai thu tiền số 0004524 ngày 03/11/2023 và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).

  4. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc các bị cáo Phạm Ngọc T, Bùi Văn T3, Đặng Văn Á, Đặng Đình C, Đào Văn T5, Phạm Xuân D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - THADS huyện Trảng Bom;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Bá Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 259/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 259/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA - HS - Phạm Ngọc Thạch + ĐP - Đ321 - T11-2023
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger