|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 259/2021/HNGĐ-PT Ngày: 22-3-2021 V/v Tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đoàn Thị Trang |
| Các Thẩm phán: | Bà Đặng Thị Bích Loan Bà Quách Thanh B |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 22/3/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án thụ lý số 141/2020/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 27/2020/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận H (nay là Thành phố Đ), Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 935/2021/QĐ-PT ngày 08 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1960 (Có mặt)
Địa chỉ: Đường K, Tổ I, Khu phố U, phường P, Quận H (nay là Thành phố Đ), Thành phố Hồ Chí Minh. - - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng M, sinh năm 1974 (Có mặt)
Địa chỉ: Đường K, Tổ I, Khu phố U, phường P, Quận H (nay là Thành phố Đ), Thành phố Hồ Chí Minh. - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
- Luật sư Lê Văn L – Văn phòng luật sư L1 – thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Luật sư Lê Văn T1 – Văn phòng luật sư L1 – thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Thanh B, sinh năm 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Phạm Hoàng Y, sinh năm 2002 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Phạm Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trình bày của ông Phạm Văn T:
Ông và bà Nguyễn Thị Hoàng M kết hôn với nhau từ năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường O, thị xã R, tỉnh V theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47, quyển số 01, ngày 27/10/2000. Việc chung sống với nhau hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, lối sống, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà M để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông và bà M có 01 con chung là Phạm Hoàng Y, sinh ngày 01/3/2002. Con chung đã trưởng thành.
Về tài sản: Ông T xác định ông và bà M không có tài sản chung. Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với thửa đất số 512, Tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại địa chỉ 162A, Đường K, Tổ I, Khu phố U, phường P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của ông. Theo đó, nguồn gốc nhà, đất do ông nhận chuyển nhượng của bà Dư Thị Thanh H1 vào năm 2006. Ông T xác định nhà, đất số 162A là tài sản riêng của ông, bà M không đóng góp công sức, tiền bạc trong khối tài sản này. Tuy nhiên để bà M có điều kiện ổn định cuộc sống sau ly hôn, ông đồng ý chia cho bà M 30% giá trị nhà, đất nêu trên.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng M trình bày:
Bà thống nhất với ý kiến của ông T về quá trình kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2007 cho đến nay. Nay bà đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông T. Về tài sản chung: Ngày 27/11/2006, bà và ông T ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 16375 với bà Dư Thị Thanh H1 để nhận chuyển nhượng nhà, đất tọa lạc tại địa chỉ 162A, Đường K, Tổ I, Khu phố U, phường P, Quận H với tổng giá trị 630.000.000 đồng, trong đó bà góp 350.000.000 đồng. Do không có nhu cầu về nhà ở nên khi ly hôn bà yêu cầu được nhận một phần hai tài sản chung của vợ chồng bằng giá trị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn T làm trong hạn luật định nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị Hoàng M tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2000. Do có mâu thuẫn không thể hàn gắn được, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết cho ông T ly hôn với bà M là đúng quy định pháp luật.
Về tài sản chung: Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số AH 341775 do Ủy ban nhân dân Quận H cấp ngày 01/02/2007 cho ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị Hoàng M. Sự thừa nhận của ông T trong quá trình giải quyết vụ án là tài sản tranh chấp là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, có đủ cơ sở xác định nhà đất đang tranh chấp là tài sản chung của ông T, bà M được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
Xét về công sức đóng góp tạo lập tài sản chung, ông T có công sức đóng góp nhiều hơn. Căn cứ quy định tại Điều 33, Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chia ông T 60% giá trị nhà đất và bà M 40% giá trị nhà, đất là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 148, Điều 293, Điều 300, Khoản 2 Điều 308, Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn T: Ông Phạm Văn T được ly hôn bà Nguyễn Thị Hoàng M.
- Về tài sản chung: Xác định nhà đất tại 162A, Đường K, Quận H là tài sản chung. Chia cho ông T hưởng 60% giá trị, bà M hưởng 40% giá trị. Ông T được quyền sở hữu nhà đất và có nghĩa vụ thanh toán cho bà M số tiền 1.949.479.839 đồng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Trang |
Bản án số 259/2021/HNGĐ-PT ngày 22/03/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 259/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
