|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thảo
- Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Huỳnh Tiến Dũng;
2- Bà Nguyễn Thị Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân Dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa : bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2582/2024/HNGĐ-ST ngày 11/11/2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3226/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4036/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn H – sinh năm 1979
Địa chỉ: số A tỉnh lộ 43, khu phố B, phường B, phố T, Thành phố Hồ Chí Minh(có đơn xin vắng mặt)
2/ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng O – sinh năm 1978
Địa chỉ: số G đường B, khu phố B, phường B, phố T, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện và tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ông Nguyễn Tấn H trình bày: Ông và bà O kết hôn năm 2008, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau thời gian sống chung hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không còn tin tưởng nhau. Hai bên đã sống ly thân và không còn khả năng hàn gắn. Nay ông không còn tình cảm gì với bà Nguyễn Thị Hoàng O nên ông yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Tấn P, sinh ngày 10/7/2003 (đã trưởng thành) và Nguyễn Tấn Đ sinh ngày 02/02/2016. Ông đồng ý giao con chung chưa thành niên cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.
Tài sản chung và nợ chung: không có.
Bà Nguyễn Thị Hoàng O không có lời khai và cũng không nộp tài liệu chứng cứ gì.
Tại phiên tòa:
Ông Nguyễn Tấn H có đơn xin vắng mặt; bà Nguyễn Thị Kim O1 vắng mặt suốt quá trình tố tụng vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến xác định việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Hoàng O sống chung với nhau từ năm 2008, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 79, ngày 09/5/2008. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Bà Nguyễn Thị Hoàng O có thực tế cư trú tại số G đường B, khu phố B, phường B, phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu của ông H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân giữa ông H và bà O sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nên ông bà đã sống ly thân nhau một thời gian dài. Trong thời gian sống ly thân hai bên cũng không thể hòa giải mâu thuẫn để về sống chung với nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy suốt quá trình tố tụng Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho bà O nhưng bà vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy bà O không quan tâm đến việc hòa giải để đoàn tụ gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét thấy hôn nhân của ông H và bà O đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tấn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hoàng O.
[3] Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Tấn P, sinh ngày 10/7/2003 (đã trưởng thành) và Nguyễn Tấn Đ sinh ngày 02/02/2016. Trong quá trình thu thập chứng cứ ông Nguyễn Tấn H trình bày ý kiến đồng ý giao con chung Nguyễn Tấn Đ cho bà Nguyễn Thị Hoàng O nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử xét quá trình sống ly thân, con chung đều do bà Nguyễn Thị Hoàng O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và hiện nay con chung đang học tập và phát triển bình thường. Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giao con chung cho bà O nuôi dưỡng để đảm bảo sự ổn định và phát triển của trẻ.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Tấn H cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Tấn Đ 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng, ông Nguyễn Tấn H phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm a khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tấn H:
Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Tấn H và bà Nguyễn Thị Hoàng O thuận tình ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Tấn P, sinh ngày 10/7/2003 (đã trưởng thành) và Nguyễn Tấn Đ sinh ngày 02/02/2016. Giao con chung Nguyễn Tấn Đ cho bà Nguyễn Thị Hoàng O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Tấn H cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Tấn Đ 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thị Hoàng O, nếu ông Nguyễn Tấn H chưa thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), ông Nguyễn Tấn H phải nộp. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, ông Nguyễn Tấn H đã nộp theo biên lai thu tiền số 67131 ngày 11/11/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Ông Nguyễn Tấn H còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều7a (áp dụng Điều 7b nếu có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); Điều 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu T |
Bản án số 2582/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 2582/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho ly hôn
