TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2580/2024/DS-ST
Ngày: 20 – 6 – 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Chi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1720/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2869/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3653/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Địa chỉ: Lầu H, 266 - 268 Đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T (Giấy ủy quyền số 25354/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Giấy ủy quyền số 2635/2023/UQ-TGĐ ngày 21/8/2023 của Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S), ông T vắng mặt theo Đơn xin vắng mặt ngày 13/5/2024.
Bị đơn: Ông Đinh Gia K, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số A, chung cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, ông K vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 19/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có ông Nguyễn Minh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:
Ngày 20/6/2017, ông Đinh Gia K có ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cụ thể là Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/6/2017, Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Ngày 23/6/2017, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã cấp cho ông K thẻ tín dụng hạn mức sử dụng 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông K đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 98.730.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay, ông K đã trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 87.975.000 đồng. Qua nhiều lần nhắc nhở, ông K vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán, từ ngày 01/02/2019 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 20/6/2024, ông K còn nợ số tiền 65.642.687 đồng, gồm: Tiền nợ gốc 21.076.368 đồng; tiền lãi quá hạn: 44.566.319 đồng. Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông K trả ngay toàn bộ số tiền vốn gốc và lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Bị đơn ông Đinh Gia K vắng mặt trong quá trình tiến hành tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được lời trình bày của ông K.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ trình tự, thủ tục luật định nhưng đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức lưu ý về thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện bị đơn ông Đinh Gia K về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn có địa chỉ tại thành phố T. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là ông Nguyễn Minh T vắng mặt nhưng có nộp đơn đề nghị giải quyết vụ án vắng mặt; bị đơn ông Đinh Gia K vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bị đơn ông Đinh Gia K trả tiền nợ gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 20/6/2024 là 65.642.687 đồng, gồm: Tiền nợ gốc 21.076.368 đồng; tiền lãi quá hạn: 44.566.319 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
[3.1] Về hiệu lực của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/6/2017: Căn cứ ý kiến trình bày của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có đầy đủ cơ sở để xác định: Ngày 20/6/2017, ông Đinh Gia K ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Xét về mặt hình thực, hợp đồng được xác lập bằng văn bản, do người có thẩm quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông K cùng ký kết. Về nội dung, hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thể hiện ý chí tự nguyện của các bên khi tham gia giao dịch, phù hợp quy định tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/6/2017 có hiệu lực pháp luật.
[3.2] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bị đơn ông Đinh Gia K trả tiền nợ gốc 21.076.368 đồng, Hội đồng xét xử nhận định: Theo Tóm tắt sao kê ngày 20/6/2024 cũng như bản tự khai của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì số tiền nợ gốc mà ông K phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là 21.076.368 đồng. Do ông K không có mặt trong quá trình tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được các tài liệu, chứng cứ do ông K xuất trình. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S giao nộp, căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử buộc ông K trả ngay số tiền nợ gốc 21.076.368 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
[3.3] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bị đơn ông Đinh Gia K trả tiền lãi quá hạn: 44.566.319 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
[3.3.1] Theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, trường hợp khoản vay bị chuyển nợ quá hạn thì khách hàng phải trả lãi trên nợ gốc, lãi suất quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay trong hạn theo hợp đồng, tương ứng với thời gian chậm trả.
[3.3.2] Về việc xác định ngày chuyển nợ quá hạn: Xét thấy, ngày 01/02/2019, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 23 Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Do đó ngày chuyển nợ quá hạn được xác định là ngày 01/02/2019.
[3.3.3] Về phạt chậm trả lãi: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc thì còn phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc được xác định bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm.
[3.3.4] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bị đơn ông Đinh Gia K trả tiền lãi tạm tính đến ngày 20/6/2024 là 44.566.319 đồng, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Theo đó: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đinh Gia K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên S1 đã ra Thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay. Nay S1 yêu cầu ông K trả tiền lãi quá hạn là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
[3.4] Như vậy, tổng số tiền ông K phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tạm tính đến ngày 20/6/2024 là 65.642.687 đồng.
[3.5] Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông K thanh toán tiền lãi phát sinh ngay sau ngày 20/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ. Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 370, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
Buộc ông Đinh Gia K thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 20/6/2024 là 65.642.687 (sáu mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn, sáu trăm tám mươi bảy) đồng, bao gồm: Tiền nợ gốc 21.076.368 đồng; tiền lãi quá hạn: 44.566.319 đồng.
Thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, giao nhận tiền tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S hoặc cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 20/6/2024, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Về án phí:
Ông Đinh Gia K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 3.282.134 (ba triệu, hai trăm tám mươi hai nghìn, một trăm ba mươi bốn) đồng, ông K chưa nộp án phí.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 1.460.944 (một triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn, chín trăm bốn mươi bốn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0006062 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Trúc Chi |
Bản án số 2580/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 2580/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng S và ông K
