Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 258/2023/HS-ST

Ngày 29-12-2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Vượng - Giáo viên hưu.
  2. Bà Ngô Thị Vân - Giáo viên hưu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 251/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số: 58/2023/HSST-QĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Phạm Gia P, sinh ngày 05/02/2007 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn B, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1982; Gia đình bị cáo có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 23/7/2023 đến ngày 01/8/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

(Có mặt)

2. Nguyễn Trọng Thành L, sinh ngày 16/4/2007 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Trọng M, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1983; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 23/7/2023 đến ngày 01/8/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

(Có mặt)

3. Đào Văn T, sinh ngày 04/5/2007 tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đào Quốc V1, sinh năm 1984 và bà Ninh Thị N, sinh năm 1985; Gia đình bị cáo có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 23/7/2023 đến ngày 01/8/2023, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

(Có mặt)

4. Nguyễn Tuấn B2, sinh ngày 12/9/2005 tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Số E, tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1979; Gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 27/8/2019 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.
  • + Ngày 16/9/2023 bị Cơ quan CQĐT Công an thành phố B ra quyết định khởi tố bị can về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo đầu thú, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy”.

(Có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Gia P và bị cáo Đào Văn T:

  • - Luật sư Nguyễn Văn Q- Văn phòng luật sư Phan T3 và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang.
  • - Ông Thân Văn L1- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.

(Ông Q và ông L1 đều có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng Thành L:

  • - Luật sư Dương Ngọc T4- Văn phòng luật sư Dương Ngọc T4, Đoàn luật sư tỉnh B.
  • - Ông Thân Văn L1- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.

(Ông T4 và ông L1 đều có mặt)

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Gia P: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

(Có mặt)

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trọng Thành L: Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Có mặt)

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đào Văn T: Bà Ninh Thị N, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Có mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Cháu Nguyễn Ngọc T5, sinh ngày 25/11/2010.

Người đại diện hợp pháp của cháu T5: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số nhà B, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu T5 và bà H đều vắng mặt)

  • - Cháu Trần Tuấn D, sinh ngày 02/6/2010.

Người đại diện hợp pháp của cháu D: Bà Lưu Thị N1, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số nhà E, ngõ B, đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu D và bà N1 đều vắng mặt)

  • - Cháu Nguyễn Hoàng Việt T6, sinh ngày 11/2/2008 .

Người đại diện hợp pháp của cháu T6: Bà Phùng Thu T7, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ngách E, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu T6 và bà T7 đều vắng mặt)

  • - Cháu Mai Quỳnh A, sinh ngày 15/9/2009.

Người đại diện hợp pháp của cháu Quỳnh A: Bà Nguyễn Thị Hải T8, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Số E, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu Quỳnh A và bà T8 đều có mặt)

  • - Cháu Nguyễn Thị Thanh Q1, sinh ngày 22/7/2006.

Người đại diện hợp pháp của cháu Q1: Ông Nguyễn Như T9, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Số B, ngõ A, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu Q1 và ông T9 đều vắng mặt)

  • - Cháu Trần Trung H1, sinh ngày 08/9/2007.

Người đại diện hợp pháp của cháu H1: Ông Trần Đức S, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số F, ngõ B, đường Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu H1 và ông S đều vắng mặt)

  • - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987.
  • - Cháu Nguyễn Tùng T10, sinh ngày 17/5/2007.

Người đại diện hợp pháp của cháu T10: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số nhà B, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu T10 và bà H đều vắng mặt)

  • - Cháu Đặng Thành T11, sinh ngày 16/7/2006.

Người đại diện hợp pháp của cháu T11: Bà Trần Thị L2, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Số E, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu T11 và bà L2 đều vắng mặt)

  • - Bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1985.
  • - Anh Đào Xuân Đức A1, sinh năm 2004.

Đều địa chỉ: Thôn M, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Bà Đ và anh Đức A1 đều vắng mặt)

  • - Cháu Đỗ Đức M1, sinh ngày 05/01/2008.

Người đại diện hợp pháp của cháu M1: Bà Phạm Thị Y, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Số C, ngõ H, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu M1 và bà Y đều vắng mặt)

  • - Cháu Nguyễn Đức Minh V2, sinh ngày 21/7/2007.

Người đại diện hợp pháp của cháu V2: Ông Nguyễn Đức L3, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Số nhà B, ngõ E, đường Á, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu V2 và ông L3 đều vắng mặt)

  • - Cháu Võ Quốc V3, sinh ngày 30/8/2007.

Người đại diện hợp pháp của cháu V3: Anh Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu V3 và anh Q2 đều vắng mặt)

  • - Anh Lê Quang T12, sinh ngày 10/4/2005.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

  • - Cháu Mai Đại C, sinh ngày 18/5/2007.

Người đại diện hợp pháp của cháu C: Bà Chu Thị S1, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Số nhà A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu C và bà S1 đều vắng mặt)

  • - Cháu Nguyễn Hùng D1, sinh ngày 23/10/2007.

Người đại diện hợp pháp của cháu D1: Bà Nguyễn Thị V4, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Số nhà D, ngõ B, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu D1 và bà V4 đều vắng mặt)

  • - Cháu Ngô Minh Q3, sinh ngày 29/7/2007.

Người đại diện hợp pháp của cháu Q3: Bà Dương Thị T13, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Số nhà A, tổ D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu Q3 và bà T13 đều vắng mặt)

  • - Bà Thân Thị H2, sinh năm 1982.
  • - Cháu Nguyễn Thị Quỳnh V5, sinh ngày 23/11/2008.

Người đại diện hợp pháp của cháu V5: Bà Thân Thị H2, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số H, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu V5 và bà T13 đều vắng mặt)

  • - Cháu Nguyễn Huyền C1, sinh ngày 07/5/2009.

Người đại diện hợp pháp của cháu C1: Bà Nguyễn Thị L4, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Số B, ngõ A, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu C1 và bà L4 đều vắng mặt)

  • - Cháu Nguyễn Anh Q4, sinh ngày 13/11/2007.

Người đại diện hợp pháp của cháu Q4: Ông Nguyễn Văn T14, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số H, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Cháu Q4 vắng mặt, ông T14 có mặt)

  • - Chị Nguyễn Thanh Thảo A2, sinh năm 2005.

Địa chỉ: Ngách E, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

  • - Chị Nguyễn Thị L5, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Số nhà C, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

  • - Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Có mặt)

  • - Ông Phạm Văn B, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

(Có mặt)

* Đại diện trường P2 nơi bị cáo Phạm Gia P, Nguyễn Trọng Thành L, Đào Văn T học tập: Chị Nguyễn Thị Khánh L6 – Giáo viên Trường P2.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi bị cáo Phạm Gia P sinh sống: Anh Nguyễn Văn S2 - Bí thư chi đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

(Có mặt)

* Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi bị cáo Nguyễn Trọng Thành L sinh sống: Anh Trần Đăng K - Bí thư chi đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi bị cáo Đào Văn P1 sinh sống: Chị Lý Thị Thu H3 - Bí thư chi đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc T5, sinh ngày 25/11/2010 trú tại số B, đường L, phường T, thành phố B là học sinh trường Trung học cơ sở T15, thành phố B và Trần Tuấn D, sinh ngày 06/6/2010 trú tại số nhà E, ngõ B, đường N, phường H, thành phố B là học sinh trường Trung học cơ sở H4, thành phố B có mâu thuẫn với nhau qua mạng xã hội Facebook. Hai người hẹn gặp nhau ngày 22/7/2023 để giải quyết mâu thuẫn.

Buổi tối ngày 22/7/2023, Nguyễn Ngọc T5 hẹn một số bạn bè gồm: Mai Quỳnh A, sinh ngày 15/9/2009 trú tại số E ngõ A, đường H, phường H, thành phố B; Nguyễn Thị Quỳnh V5, sinh ngày 23/11/2008 trú tại Số H, đường L, phường D, thành phố B; Nguyễn Thị Thanh Q1, sinh ngày 22/7/2006 trú tại số B, ngõ A, đường T, phường L, thành phố B; Trần Trung H1, sinh ngày 08/9/2007 trú tại số F, ngõ B, đường Đ, phường L, thành phố B và Nguyễn Tùng T10, sinh ngày 17/5/2007 (là anh trai T5) đi uống nước ở gần sân bóng T, phường T, thành phố B để nhờ đi giải quyết mâu thuẫn giữa T5 và D thì mọi người đồng ý. H1 mang theo 01 con dao dài khoảng 50cm. T10 mang theo 01 con dao gọt hoa quả chuôi màu vàng dài khoảng 20cm. Khi gặp nhau tại quán nước, H1 điện thoại cho Đặng Thành T11, sinh ngày 16/7/2006 ở đê C, phường L, thành phố B bảo đi ra uống nước. T11 rủ thêm Đào Xuân Đức A1, sinh ngày 28/3/2004, trú tại xã T, thành phố B sau đó Đức A1 rủ thêm Nguyễn Tuấn B2, sinh ngày 12/9/2005 trú tại số E, đường T, tổ dân phố C, phường T, thành phố B đi uống nước. Khi mọi người có mặt đông đủ tại quán, T5 nhắn tin hẹn Trần Tuấn D đi ra gầm cầu vượt M, phường T, thành phố B gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, T5 và mọi người trong nhóm đi ra gầm cầu vượt Minh K1 đợi. Trong khi chờ D đến, Mai Quỳnh A gọi điện cho bạn trai là Phạm Gia P, sinh ngày 05/02/2007, trú tại thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang bảo ra khu vực gầm cầu vượt M xem nhóm của T5 đánh nhau và nếu có đánh nhau thì hỗ trợ thì P đồng ý.

Thời điểm T5 nhắn tin cho D hẹn gặp nhau thì D đang đi xe máy điện kèm bạn là Nguyễn Hoàng Việt T6, sinh năm 2008 đi chơi. D rủ T6 cùng đi đến gặp T5 giải quyết mâu thuẫn. Trinh nhắn tin cho Đỗ Đức M1, sinh ngày 05/1/2008, trú tại số C, ngõ H, đường T, phường L, thành phố B bảo đi ra gầm cầu vượt Minh K1 để giải quyết mâu thuẫn thì M1 đồng ý. M1 mang theo 01 con dao gọt hoa quả dài khoảng 20cm và nhắn tin rủ bạn là Đ1 ở phường D (M1 không biết tuổi và địa chỉ cụ thể) đi uống nước. Sau đó, M1 nhắn tin cho Nguyễn Đức Minh V2, sinh ngày 21/7/2007 ở đường Á, phường T, thành phố B hỏi mượn gậy bóng chày để đi đánh bóng thì V2 mang gậy bóng chày đến quán nước đưa cho M1 mượn. V2 ngồi uống nước tại quán còn M1 và Đ1 đi ra gầm cầu vượt Minh K1 thì thấy nhóm của T5 đã có mặt ở đó.

Thời điểm Mai Quỳnh A gọi điện cho Phạm Gia P thì P đang ngồi uống nước cùng với một số bạn cùng học tại trường P2 gồm: Mai Đại C, sinh ngày 18/5/2007, trú tại số nhà A, đường H, phường H, thành phố B; Võ Quốc V3, sinh ngày 30/8/2007, trú tại thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Lê Quang T12, sinh ngày 10/4/2005 ở thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Trọng Thành L, sinh ngày 16/4/2007, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Hùng D1, sinh ngày 23/10/2007, trú tại số nhà D, ngõ B, đường N, phường T, thành phố B. Một lúc sau, Đào Văn T, sinh ngày 04/5/2007, trú tại thôn S, xã S, thành phố B cũng là bạn học của P gọi điện cho P rủ đi đánh nhau do trước đó T12 có gọi điện cho T. Sau đó, T12 đi về phòng trọ ở khu ký túc xá sinh viên Bắc Giang. P nói với mọi người chuẩn bị đi đánh nhau hộ bạn gái nên D1 và L đi về phòng trọ của T12 lấy dao bấm. Khi D1 đến thì T12 không có ở phòng. D1 tự lấy dao bấm ở trong phòng trọ đút trong túi quần rồi cùng L quay trở lại quán nước. V3 hỏi P về chiếc gậy rút thì P bảo để trong cốp xe mô tô BKS 12K1-4625 của P. Một lúc sau, T đi đến thì cả nhóm cùng xuất phát đi sang gầm cầu vượt M. P điều khiển xe mô tô BKS 12K1-4625 chở V3 và T còn D1 điều khiển xe mô tô BKS 98AA-065.70 chở T12 và C điều khiển xe mô tô BKS 98AF-029.636 chở L. Đến nơi, nhóm của P nhìn thấy nhóm của T5 và nhóm của D1 đang cãi nhau. V3 lấy gậy rút trong cốp xe máy của P đút vào túi quần. Một lúc sau, D1 bảo mọi người không đánh nhau nữa nên cả nhóm đi về.

Khi nhóm của P đi đến đoạn sân bóng T thì nhìn thấy một nhóm gồm 7 thanh niên không quen biết đang đứng cãi nhau. D1 tưởng nhóm thanh niên này đến đánh nhau nên bảo mọi người trong nhóm quay lại xem. Khi đến nơi, D1 nhận ra Ngô Minh Q3, sinh ngày 29/7/2007, trú tại số A, tổ D, phường M, thành phố B đang ngồi trên xe máy điện đỗ ở lề đường. Do trước đó giữa D1 và Q3 có xảy ra mâu thuẫn với nhau khi đá bóng nên D1 đi đến chỗ Q3 hỏi “bạn đi đâu thế, bạn ở nhóm áo màu đen hay áo màu trắng”. Q3 trả lời “áo màu đen hay áo màu trắng là sao”. D1 hỏi lại lần nữa nhưng Q3 không trả lời. D1 liền xông vào dùng tay đấm Q3. Thấy vậy, Nguyễn Tuấn B2 xông vào dùng tay đấm Q3 02 cái vào đầu còn V3 cầm gậy rút vụt 2 cái vào đầu Quân. Đồng thời, D1 lấy dao bấm trong túi bật lưỡi dao ra và khua trúng vào phần sườn bên trái của Q3. H1 xông vào dùng tay phải đấm vào mặt Q3 thì Q3 đấm trả 01 cái vào tai. H1 rút con dao ra cầm trên tay phải chém trúng vào má Q3. P xông vào dùng chân đạp 1 cái vào vai Q3 còn T dùng chân đá 1 cái vào mặt và 1 cái vào mông Q3 đồng thời L dùng tay túm tóc Q3 giật xuống, đấm 1 cái vào mặt và đạp 1 cái vào lưng. Sau đó, mọi người có mặt ở đó can ngăn nên nhóm của P không đánh Q3 nữa rồi đi uống nước sau đó ra về. Một lúc sau, V3 điều khiển xe mô tô chở P quay lại khu vực gầm cầu vượt M để xem tình hình. Khi đi qua khu vực hiện trường thì gặp lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ nên P đã điều khiển xe chở V3 bỏ chạy. V3 vứt con dao bấm ở ven đường nhưng bị Công an phát hiện thu giữ con dao. Cơ quan điều tra triệu tập thì Phạm Gia P, Nguyễn Trọng Thành LĐào Văn T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:

  • - 01 xe mô tô Honda Spacy biển số 12K1-4625;
  • - 01 con dao bấm dài khoảng 15cm, trong đó phần lưỡi dao dài khoảng 5cm và phần chuôi dao dài khoảng 10cm, được cho vào một phong bì thư kí hiệu "Dao Vượng" dán kín, niêm phong tại chỗ.
  • - 01 gậy rút bằng sắt (gậy rút 3 khúc);
  • - 01 điện thoại Iphone 12 mini màu đen của Trần Trung H1;
  • - 01 điện thoại Iphone XS màu vàng của Nguyễn Trọng Thành L;
  • - 01 điện thoại Redmi 9T màu xanh của Mai Quỳnh A;
  • - 01 điện thoại Samsung Galaxy A50 màu đen của Nguyễn Thị Quỳnh V5;
  • - 01 điện thoại POCOPHONEF1 màu đen của Võ Quốc V3;
  • - 01 điện thoại Iphone màu đen của Trần Tuấn D;
  • - 01 điện thoại Iphone 11 ProMax màu vàng của Đỗ Đức M1;
  • - 01 điện thoại Samsung Galaxy A10 màu xanh của Phạm Gia P;
  • - 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu hồng của Nguyễn Ngọc T5;
  • - 02 con dao gọt hoa quả dài khoảng 21cm, trong đó phần lưới dao dài khoảng 12cm và phần chuôi dao bằng nhựa màu vàng dài khoảng 9cm;
  • - 01 gậy bóng chày bằng kim loại sơn màu xanh dài 70cm.

Sự việc xẩy ra tại khu vực gầm cầu vượt M, phường T, thành phố B là nơi có nhiều người tham gia giao thông đi lại; khi sự việc xẩy ra có nhiều người đứng ở đó xem, trong đó có nhiều cháu còn là học sinh trên địa bàn thành phố B.

Sau khi sự việc xảy ra, UBND phường T, Công an phường T, thành phố B đã có văn bản đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thành phố B xử lý hành vi của các đối tượng về hành vi gây rối trật tự công cộng vì gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự.

Đối với Ngô Minh Q3 bị thương được đưa đến bệnh viện khám điều trị. Giấy chứng nhận thương tích ngày 25/7/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định tình trạng thương tích của Q3 lúc vào viện:

  • - Tỉnh, đau đầu, đau tại vết thương
  • - 01 vết thương rách da đầu vùng trán đỉnh trái kích thước 5x2cm
  • - 01 vết thương dọc má trái dài 6cm
  • - 01 vết thương đốt 1 ngón IV tay trái kích thước 2x1cm, tổn thương bán phần gân duỗi
  • - 01 vết thương mặt trước vùng mào chậu trái kích thước 1.5cm
  • - Vết thương xây xát phần mềm vùng cổ.

Ngày 31/7/2023, Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định thương tích của Q3. Tuy nhiên, anh Q3 có đơn từ chối giám định và không yêu cầu xử lý về hành vi gây thương tích.

Cơ quan điều tra đã thu giữ, trưng cầu giám định 02 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh gần hiện trường và do cháu Nguyễn Thanh Thảo A2 quay lại bằng điện thoại ghi lại diễn biến sự việc.

Kết luận giám định số 2039/KL-KTHS ngày 24/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) file video gửi giám định.

2. Trích xuất được 12 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong 02 file video gửi giám định.

Cơ quan điều tra cho các bị can quan sát các file video và bản ảnh trích xuất. Các bị can đều xác định có hình ảnh thực hiện hành vi đánh anh Q3.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị can Phạm Gia Phát, Đào Văn TNguyễn Trọng Thành L đã bồi thường cho Ngô Minh Q3 tổng số tiền 50.000.000 đồng (gia đình L bồi thường 16.600.000 đồng, gia đình P bồi thường 16.700.000 đồng và gia đình T bồi thường 16.700.000 đồng). Anh Q3 không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can. Anh Q3 không yêu cầu B2 phải bồi thường.

Về xử lý các đối tượng có liên quan:

Đối với Võ Quốc V3, sinh ngày 30/8/2007; Trần Trung H1, sinh ngày 08/9/2007; Nguyễn Hùng D1, sinh ngày 23/10/2007 có hành vi tham gia đánh anh Q3 gây rối trật tự công cộng nhưng do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạm hành chính.

Đối với Đỗ Đức M1, Nguyễn Tùng T10 có hành vi mang theo dao gọt hoa quả và gậy bóng chày mục đích đánh nhau nhưng chưa sử dụng. Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Nguyễn Ngọc T5, Trần Tuấn D, Mai Quỳnh A, Nguyễn Thị Quỳnh V5, Nguyễn Thị Thanh Q1, Đặng Thành T11, Đào Xuân Đức A1, Trần Tuấn D, Nguyễn Hoàng Việt T6, Lê Quang T12, Mai Đại C không tham gia đánh nhau nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với nam thanh niên tên Đ1 bạn của M1 ở phường D. Theo M1 khai không biết thông tin và địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra xác minh tại phường D nhưng không xác định được là ai.

Đối với con dao mà Trần Trung H1 dùng để gây thương tích cho anh Q3. Theo H1 khai đã vứt đi tại bãi đất trống gần khu vực hiện trường. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng những đồ vật, tài sản thu giữ để xử lý theo quy định.

*Tại bản cáo trạng số 257/CT-VKS ngày 22 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

*Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Mai Quỳnh A (do bà Nguyễn Thị Hải T8 là người đại diện hợp pháp) trình bày: Tối ngày 22/7/2023, cháu có gọi điện rủ Phạm Gia P đi xem đánh nhau. Đến khu vực sân bóng Thăng L7, nhóm Phạm Gia P có đánh nhau với nhóm của Ngô Minh Q3. Cháu không tham gia đánh nhau, không biết nguyên nhân hai nhóm đánh nhau là do đâu.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị B1, người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Anh Q4-ông Nguyễn Văn T14 giữ nguyên quan điểm trình bày trong hồ sơ vụ án. Ông B đề nghị được xin lại chiếc xe mô tô Honda Spacy biển số 12K1-4625 để làm phương tiện đi lại.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Phạm Gia P từ 01 năm 06 tháng tù đến 2 năm tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Thành L từ 01 năm 06 tháng tù đến 2 năm tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

+ Xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 01 năm 06 tháng tù đến 2 năm tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn B2 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Trả lại ông Phạm Văn B 01 xe mô tô Honda Spacy biển số 12K1-4625;
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao bấm dài khoảng 15cm, trong đó phần lưỡi dao dài khoảng 5cm và phần chuôi dao dài khoảng 10cm, được cho vào một phong bì thư kí hiệu "Dao Vượng" dán kín, niêm phong tại chỗ; 01 gậy rút bằng sắt (gậy rút 3 khúc); 02 con dao gọt hoa quả dài khoảng 21cm, trong đó phần lưới dao dài khoảng 12cm và phần chuôi dao bằng nhựa màu vàng dài khoảng 9cm; 01 gậy bóng chày bằng kim loại sơn màu xanh dài 70cm
  • - Trả lại:
  • + 01 điện thoại Iphone 12 mini màu đen cho Trần Trung H1;
  • + 01 điện thoại Iphone XS màu vàng cho Nguyễn Trọng Thành L;
  • + 01 điện thoại Redmi 9T màu xanh cho Mai Quỳnh A;
  • + 01 điện thoại Samsung Galaxy A50 màu đen cho Nguyễn Thị Quỳnh V5;
  • + 01 điện thoại POCOPHONEF1 màu đen cho Võ Quốc V3;
  • + 01 điện thoại Iphone màu đen cho Trần Tuấn D;
  • + 01 điện thoại Iphone 11 ProMax màu vàng cho Đỗ Đức M1;
  • + 01 điện thoại Samsung Galaxy A10 màu xanh cho Phạm Gia P;
  • + 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu hồng cho Nguyễn Ngọc T5;

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

*Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Gia P, Đào Văn T, Nguyễn Trọng Thành L đều nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố đối với các bị cáo. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không phải là người khởi sướng, chủ mưu, thực hiện hành vi do bộc phát. Khi phạm tội, các bị cáo chưa đủ 18 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, rất ăn năn hối cải về hành vi của bản thân. Luật sư Nguyễn Văn Q đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phạm Gia P, Đào Văn T 01 năm 06 cho hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội cải sửa bản thân. Luật sư Dương Ngọc T4 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Trọng Thành L vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn các bị cáo khác: bà nội bị cáo L là người có có công với cách mạng và bị cáo L trong quá trình học tập có đạt giải ba “Cuộc thi sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng huyện L năm 2021”. Trợ giúp viên pháp lý Thân Văn L1 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phạm Gia P, Đào Văn T, Nguyễn Trọng Thành L từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Bị Phạm Gia P, Đào Văn T, Nguyễn Trọng Thành L và người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Gia P, Đào Văn T, Nguyễn Trọng Thành L nhất trí với trình bày của người bào chữa cho các bị cáo.

*Bị cáo Nguyễn Tuấn B2, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Mai Quỳnh A (do bà Nguyễn Thị Hải T8 là người đại diện hợp pháp), ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị B1, người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Anh Q4-ông Nguyễn Văn T14 không có ý kiến gì tranh luận.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và mức hình phạt đề nghị đối với các bị cáo. Đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo L đề nghị cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự vì bà bị cáo là người có công với cách mạng, đạt giải ba “Cuộc thi sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng huyện L năm 2021” thì đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

*Các bị cáo đều nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử cho được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân, trở thành công dân có ích của xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo khác tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Buổi tối ngày 22/7/2023 nhóm Phạm Gia P, Nguyễn Trọng Thành L, Đào Văn T, Võ Quốc V3, Trần Trung H1, Nguyễn Hùng D1 tụ tập cùng nhau đi đến khu vực gầm cầu vượt M, phường T, thành phố B mục đích để đánh nhau do được Nguyễn Ngọc T5, sinh ngày 25/11/2010 nhờ đến để giải quyết mâu thuẫn với Trần Tuấn D, sinh ngày 06/6/2010. Nhóm của P đem theo dao, gậy kim loại. Nguyễn Tuấn B2 cũng có mặt ở đây do bạn của T5 nhờ đến để giải quyết mâu thuẫn. Khi đến hiện trường thì nhóm của T5 và nhóm của D không đánh nhau và tự giải tán.

Khi Nguyễn Hùng D1 nhìn thấy Ngô Minh Q3 có mặt tại đó. Do mâu thuẫn với anh Q3 từ trước nên D1 xông vào đấm Q3. Do có quen biết với D1 nên B2 cũng lao vào dùng tay đấm Q3 2 cái vào đầu. D1 dùng dao bấm đâm vào vùng sườn của Q3. Các đối tượng trong nhóm của P cũng xông vào cùng tham gia đánh anh Q3 trong đó V3 cầm gậy rút bằng kim loại vụt 2 cái vào đầu còn H1 đấm vào mặt và dùng dao chém vào má anh Q3; P đạp 1 cái vào vai; T đá 1 cái vào mặt và 1 cái vào mông anh Q3; L túm tóc giật xuống, đấm 1 cái vào mặt và đạp 1 cái vào lưng của Q3. Do mọi người can ngăn nên nhóm của P dừng lại. Hành vi của các bị can B2, P, LT là đồng phạm trong việc đánh anh Q3 đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự. Anh Q3 bị thương nhưng từ chối giám định. Các bị can phải chịu trách nhiệm đồng phạm về hành vi gây rối trật tự công cộng với tình tiết định khung tăng nặng là dùng hung khí quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Các bị can đều là người dưới 18 tuổi phạm tội. Đối với Võ Quốc V3, Trần Trung H1, Nguyễn Hùng D1 tham gia gây rối trật tự công cộng nhưng chưa đủ tuổi để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã xử phạt vi phạm hành chính.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Gia P, Đào Văn T, Nguyễn Trọng Thành L, Nguyễn Tuấn B2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo:

[4.1] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này.

[4.2] Về vai trò các bị cáo: Các bị cáo cùng cố ý phạm tội nhưng không có dấu hiệu tổ chức, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc và phân công nhiệm cụ thể nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo không ai khởi sướng, cùng thấy Nguyễn Hùng D1 đánh Ngô Minh Q3 thì cùng tham gia đánh Q3 nên có vai trò ngang nhau trong vụ án.

[5] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

[5.1] Về nhân thân: bị cáo B2 có nhân thân xấu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích và đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo P, T, L có nhân thân tốt.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo xin đầu thú. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân. Bị cáo P, L, T đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho Ngô Minh Q3; Ngô Minh Q3 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Do vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo B2, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Các bị cáo P, L, T chưa đủ 18 tuổi, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND xã, phường nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[7] Bị cáo B2 thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi nhưng có nhân thân xấu nên phải áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn để đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[8] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao bấm dài khoảng 15cm, trong đó phần lưỡi dao dài khoảng 5cm và phần chuôi dao dài khoảng 10cm, được cho vào một phong bì thư kí hiệu "Dao Vượng" dán kín, niêm phong tại chỗ; 01 gậy rút bằng sắt (gậy rút 3 khúc); 02 con dao gọt hoa quả dài khoảng 21cm, trong đó phần lưới dao dài khoảng 12cm và phần chuôi dao bằng nhựa màu vàng dài khoảng 9cm; 01 gậy bóng chày bằng kim loại sơn màu xanh dài 70cm do liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo;

- Trả lại các đồ vật sau do không liên quan đến hành vi phạm tội:

  • + 01 xe mô tô Honda Spacy biển số 12K1-4625 cho ông Phạm Văn B.
  • + 01 điện thoại Iphone 12 mini màu đen cho Trần Trung H1;
  • + 01 điện thoại Iphone XS màu vàng cho Nguyễn Trọng Thành L;
  • + 01 điện thoại Redmi 9T màu xanh cho Mai Quỳnh A;
  • + 01 điện thoại Samsung Galaxy A50 màu đen cho Nguyễn Thị Quỳnh V5;
  • + 01 điện thoại POCOPHONEF1 màu đen cho Võ Quốc V3;
  • + 01 điện thoại Iphone màu đen cho Trần Tuấn D;
  • + 01 điện thoại Iphone 11 ProMax màu vàng cho Đỗ Đức M1;
  • + 01 điện thoại Samsung Galaxy A10 màu xanh cho Phạm Gia P;
  • + 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu hồng cho Nguyễn Ngọc T5;

[9] Đối với Võ Quốc V3, sinh ngày 30/8/2007; Trần Trung H1, sinh ngày 08/9/2007; Nguyễn Hùng D1, sinh ngày 23/10/2007 có hành vi tham gia đánh anh Q3 gây rối trật tự công cộng nhưng do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Đỗ Đức M1, Nguyễn Tùng T10 có hành vi mang theo dao gọt hoa quả và gậy bóng chày mục đích đánh nhau nhưng chưa sử dụng nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạm hành chính là phù hợp.

[10] Đối với Nguyễn Ngọc T5, Trần Tuấn D, Mai Quỳnh A, Nguyễn Thị Quỳnh V5, Nguyễn Thị Thanh Q1, Đặng Thành T11, Đào Xuân Đức A1, Trần Tuấn D, Nguyễn Hoàng Việt T6, Lê Quang T12, Mai Đại C không tham gia đánh nhau nên Cơ quan điều tra không xử lý là đảm bảo quy định.

[11] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Gia P 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Thành L 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Văn T 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự

4 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn B2 02 năm 02 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

5. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao bấm dài khoảng 15cm, trong đó phần lưỡi dao dài khoảng 5cm và phần chuôi dao dài khoảng 10cm, được cho vào một phong bì thư kí hiệu "Dao Vượng" dán kín, niêm phong tại chỗ; 01 gậy rút bằng sắt (gậy rút 3 khúc); 02 con dao gọt hoa quả dài khoảng 21cm, trong đó phần lưới dao dài khoảng 12cm và phần chuôi dao bằng nhựa màu vàng dài khoảng 9cm; 01 gậy bóng chày bằng kim loại sơn màu xanh dài 70cm

- Trả lại:

  • + 01 xe mô tô Honda Spacy biển số 12K1-4625 cho ông Phạm Văn B;
  • + 01 điện thoại Iphone 12 mini màu đen cho Trần Trung H1 ;
  • + 01 điện thoại Iphone XS màu vàng cho Nguyễn Trọng Thành L;
  • + 01 điện thoại Redmi 9T màu xanh cho Mai Quỳnh A;
  • + 01 điện thoại Samsung Galaxy A50 màu đen cho Nguyễn Thị Quỳnh V5;
  • + 01 điện thoại POCOPHONEF1 màu đen cho Võ Quốc V3;
  • + 01 điện thoại Iphone màu đen cho Trần Tuấn D;
  • + 01 điện thoại Iphone 11 ProMax màu vàng cho Đỗ Đức M1;
  • + 01 điện thoại Samsung Galaxy A10 màu xanh cho Phạm Gia P;
  • + 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu hồng cho Nguyễn Ngọc T5;

6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND TP.Bắc Giang.
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang.
  • - TAND tỉnh Bắc Giang.
  • - Công an Thành phố Bắc Giang.
  • - Chi cục THADS TP. Bắc Giang.
  • - Trại Tạm giam CA tỉnh Bắc Giang.
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang.
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án.
  • - UBND x.Song Khê, TP.Bắc Giang, Bắc Giang;
  • - UBND x. Việt Lập, h. Tân Yên, Bắc Giang;
  • - UBND x.Xuân Hương, h.Lạng Giang, Bắc Giang;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 258/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Gia P cùng đồng phạm "Gây rối trật tự công cộng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger