|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 258/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định
Ông Nguyễn Đức Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 234/2024/HNGĐ-TLST ngày 08/5/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2024/QĐ-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày 23/9/1996. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Xuân Trì, xã Tân Quang, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Hiện ở: Nhật Bản. Người được chị T ủy quyền giao nhận văn bản: Chị Vũ Thị Tú M, sinh năm 1996. Địa chỉ: Số A đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn : Anh Nguyễn Đức T1, sinh ngày 28/9/1992. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn X, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương. Hiện ở: Đông Timor.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1968 và bà Trần Thị N, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình.
( Chị T, anh T1, ông C, bà N đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đức T1 tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương ngày 27/12/2019. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được hơn 1 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong lối sống và cách chăm sóc con cái. Tháng 3/2023 chị sang Nhật Bản lao động. Anh T1 đưa cháu Nguyễn Khánh Q về ở với ông bà nội một thời gian, đến tháng 8/2023 anh T1 đưa con vào ông bà ngoại nhờ chăm sóc, từ đó vợ chồng ít liên lạc, không còn quan tâm đến nhau. Qua người thân của anh T1 chị được biết anh T1 đã đi Đông Timor lao động. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.
Về quan hệ con chung: Chị và anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 26/6/2020. Trong thời gian chị và anh T1 đi nước ngoài cháu Q ở với ông bà ngoại. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con, tự nguyện không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Do điều kiện chị chưa về được Việt Nam, nên chị tiếp tục ủy quyền cho bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T1 không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Theo chị T trình bày, anh Nguyễn Đức T1 hiện nay đang lao động tại Đông Timor, chị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T1, nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh T1 qua gia đình. Ông Nguyễn Đức N1 và bà Nguyễn Thị L là bố mẹ đẻ anh T1 cung cấp thông tin: Chị T đang lao động tại Nhật Bản, còn anh T1 đi nước ngoài, cụ thể anh T1 lao động ở đâu, địa chỉ ở nước ngoài như thế nào thì ông bà không biết, nhưng anh T1 vẫn thỉnh thoảng liên lạc về gia đình. Ông bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh T1 biết. Thông qua gia đình anh T1 có quan điểm, mong muốn chị T suy nghĩ để rút đơn ly hôn, nếu chị T kiên quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, anh T1 và gia đình có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Khánh Q, trong thời gian anh T1 ở nước ngoài, anh ủy quyền cho bố mẹ chăm sóc, cháu Q thay anh. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện chưa về được Việt Nam nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị N có ý kiến trình bày: Ông bà là bố mẹ đẻ của chị T, hiện tại cháu Nguyễn Khánh Q đang sống cùng ông bà, cháu Q học tập tại trường mầm non P, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Nếu Tòa án giao con cho chị T nuôi dưỡng, ông bà đồng ý nhận ủy quyền của chị T chăm sóc cháu Q trong thời gian chị T không có mặt tại Việt Nam. Do điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị T được ly hôn chị T1. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 26/6/2020 cho chị Nguyễn Thị Hồng T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam. Tạm giao cháu Q cho ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Đức T1 đều có hộ khẩu thường trú tại: Thôn X, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương. Hiện chị T, anh T1 đang lao động ở nước ngoài. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh T1 tại Đông Timor. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh T1 cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh T1 được biết, anh T1 thỉnh thoảng có liên lạc về gia đình. Bà L đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh T1 biết.
Do chị T ủy quyền cho bố mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q nên Tòa án xác định ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Chị T, anh T1, ông C, bà N đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Đức T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương ngày 27/12/2019, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh T1. Thông qua gia đình anh T1 mong muốn chị T rút đơn ly hôn để vợ chồng đoàn tụ, tuy nhiên anh T1 không đưa ra được biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, đồng thời anh T1 cũng có quan điểm, trường hợp chị T giữ nguyên quan điểm ly hôn thì anh cũng đồng ý. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
- Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Đức T1 có một con chung là Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 26/6/2020. Ly hôn chị T, anh T1 đều có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy, cháu Q đang sinh sống cùng ông bà ngoại và học tập tại trường mầm non P, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, cháu được nuôi dưỡng và phát triển tốt. Hiện nay anh T1, chị T đang lao động ở nước ngoài nên không có điều kiện trực tiếp để nuôi con. Nguyện vọng nuôi con của anh T1, chị T là chính đáng, tuy nhiên xét thấy cháu Q đang sinh sống ổn định cùng ông bà ngoại, mặt khác cháu là con gái nên nếu giao cho chị T nuôi dưỡng thì sẽ tốt hơn. Do vậy, cần giao cháu Q cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu Q cho ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Đức T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn anh Nguyễn Đức T1.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 26/6/2020 cho chị Nguyễn Thị Hồng T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam. tạm giao cháu Q cho ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh Nguyễn Đức T1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000670 ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Đức T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 258/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 258/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
