Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 258/2024/DS-ST

Ngày: 27-9-2024

“V/v tranh chấp Hợp đồng

tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Bùi Đắc Nghĩa;
  2. Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại Phụng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 310/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 279/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S1; địa chỉ: Số B, N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Ông Nguyễn Hồng S–Giám đốc Chi nhánh T (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông S: Ông Cao Hiền Trí P – Chuyên viên quản lý nợ (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 20/6/2024 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn là ông Cao Hiền Trí P trình bày:

Ngày 29/9/2022, chị H có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S1 (từ đây gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2272576 với hạn mức 50.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,77%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng chị H đã sử dụng cụ thể như sau: Rút kỳ đầu vào tháng 10/2022 với số tiền 45.100.000 đồng, lãi là 156.000 đồng, cộng dư nợ cuối kỳ là 45.256.000 đồng được chuyển sang đầu kỳ tháng 11/2022. Tiền đầu kỳ tháng 11/2022 là 45.256.000 đồng, cộng lãi phát sinh 1.212.591 đồng, cộng phí trễ hạn là 100.000 đồng và có chi trả được 1.358.000 đồng, dư nợ cuối kỳ là 45.210.591 đồng được chuyển sang đầu kỳ tháng 12/2022. Tiền đầu kỳ tháng 12/2022 là 45.210.591 đồng, cộng lãi phát sinh 1.231.086 đồng, cộng phí trễ hạn là 100.000 đồng và có chi trả được 1.358.000 đồng, dư nợ cuối kỳ là 45.183.677 đồng được chuyển sang đầu kỳ tháng 01/2023. Tiền đầu kỳ tháng 01/2023 là 45.183.677 đồng, cộng lãi phát sinh 1.292.199 đồng, cộng phí trễ hạn là 100.000 đồng, dư nợ cuối kỳ là 46.575.876 đồng được chuyển sang đầu kỳ tháng 02/2023. Tiền đầu kỳ tháng 02/2023 là 46.575.876 đồng, cộng lãi phát sinh 1.257.738 đồng, đã trả được 2.760.000 đồng, dư nợ cuối kỳ là 45.073.614 đồng được chuyển sang đầu kỳ tháng 3/2023. Tiền đầu kỳ tháng 3/2023 là 45.073.614 đồng, cộng lãi phát sinh 1.158.904 đồng, đã trả được 1.335.000 đồng, dư nợ cuối kỳ là 44.877.518 đồng được chuyển sang đầu kỳ tháng 3/2023. Đến thời điểm ngày 10/8/2023 chị H trả lần cuối cùng với số tiền 1.350.000 đồng thì ngưng. Ngày 10/11/2023 Ngân hàng chốt dư nợ của chị H là 49.645.551 đồng, do chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ trên sang nợ quá hạn. Sau đó, chị H có trả thêm được 10.000.000 đồng được hạch toán vào dư nợ quá hạn. Đến ngày 26/8/2024 chị H còn nợ Ngân hàng 39.645.551 đồng tiền gốc, lãi quá hạn là 16.391.665 đồng (lãi được tính từ ngày 10/11/2023 đến ngày 26/8/2024), tổng cộng là 56.037.216 đồng.

Nay ông đại diện cho Ngân hàng yêu cầu chị H có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 26/8/2024 là 56.037.216 đồng; yêu cầu tính lãi từ ngày 27/8/2024 cho đến khi tất nợ theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2272576 đã ký kết ngày 29/9/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng. Ngoài ra, Ngân hàng không yêu cầu gì khác.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị H vắng mặt nên không có lời trình bày.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
  • Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xử theo hướng:
    • + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với chị H. Buộc chị H có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng 56.037.216 đồng đồng tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 26/8/2024; tiền lãi quá hạn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2272576 đã ký kết ngày 29/9/2022 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng tính từ ngày 27/8/2024 cho đến khi tất nợ.
    • + Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Đức Thạch D là Người đại diện theo pháp luật của Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho ông Nguyễn Hồng S đại diện. Ông Nguyễn Hồng S vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho ông Cao Hiền Trí P đại diện. Ông Cao Hiền Trí P vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Nguyễn Thị H là Bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với bà D, ông S, ông P, chị H.

[2] Về nội dung tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án, P đại diện cho Ngân hàng yêu cầu chị H trả lại cho Ngân hàng 56.037.216 đồng tiền gốc, tiền lãi tính đến ngày 26/8/2024; tiền lãi quá hạn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2272576 đã ký kết ngày 29/9/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng tính từ ngày 27/8/2024 cho đến khi tất nợ. Xét yêu cầu của Ngân hàng thấy rằng:

[2.1] Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2272576 ngày 29/9/2022 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có hiệu lực ngày 06/12/2023 do Ngân hàng cung cấp có đủ căn cứ xác định chị H có ký kết với Ngân hàng Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng trên là có thật. Chị H đã được cấp Thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,77%/tháng; đã thực hiện các giao dịch và đến nay chị H còn nợ lại 39.645.551 đồng tiền gốc là có thật. Căn cứ vào Bản tóm tắt sao kê ngày 26/8/2024 của Ngân hàng cung cấp cũng đã có đủ căn cứ xác định tính đến ngày 26/8/2024 chị H nợ Ngân hàng 16.391.665 đồng tiền lãi quá hạn.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị H đều vắng mặt nên không có lời trình bày, không có chứng cứ phản bác nên xem như không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự và phải chịu hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình.

[2.3] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy Ngân hàng yêu cầu chị H trả lại cho Ngân hàng 56.037.216 đồng tiền gốc, tiền lãi tính đến ngày 26/8/2024; tiền lãi quá hạn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2272576 ngày 29/9/2022 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng tính từ ngày 27/8/20234 cho đến khi tất nợ là có căn cứ, cần chấp nhận là phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[3] Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với những nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc chị H phải chịu 2.802.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S1 đối với chị Nguyễn Thị H về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

Buộc chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 39.645.551 (ba mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm năm mươi mốt) đồng tiền gốc, 16.391.665 (mười sáu triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi lăm) đồng tiền lãi tính đến ngày 26/8/2024, tổng cộng là 56.037.216 đồng (năm mươi sáu triệu không trăm ba mươi bảy nghìn hai trăm mười sáu) đồng và tiền lãi quá hạn theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2272576 ngày 29/9/2022 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tính từ ngày 27/8/2024 cho đến khi tất nợ.

2. Về án phí:

  • - Chị Nguyễn Thị H phải chịu 2.082.000 (hai triệu không trăm tám mươi hai nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Ngân hàng thương mại cổ phần S1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 1.308.000 (một triệu ba trăm lẻ tám nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0006386 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (do Phạm Dương Chí K nộp thay).

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho Ngân hàng, chị H biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Chung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 258/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S - Nguyễn Thị H tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger