Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 258/2024/HS-ST

Ngày 07-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

Ông Nguyễn Văn Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 245/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 974/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Mòng Văn B, sinh năm 1999 tại Sơn La. Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nơi sinh sống: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Khơ-mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mòng Văn S và bà Mòng Thị S1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 11/6/2024; tạm giam ngày 19/6/2024; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Mòng Văn B: Ông Trần Minh N - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/06/2024, B đi xe ôm đến khu vực đường tàu Trần Nguyên H, L, Hải Phòng để tìm mua ma tuý Heroine về sử dụng. Khi đến nơi, 01 nam giới không quen biết hỏi B có mua ma túy không. B trả lời: “có” rồi lên xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) của người nam giới. Người này chở B vào ngõ D Đặng Kim N1 được 20m thì dừng lại. Bắc lấy 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đưa cho người nam giới. Người nam giới nhận tiền rồi đi bộ vào sâu trong ngõ. Một lúc sau, người nam giới quay lại đưa cho B 01 túi nilon bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng rồi bỏ đi đâu B không biết. B cầm túi nilon chứa ma tuý vừa mua được trên trong lòng bàn tay phải và đi về đến trước khu vực cửa số nhà H Đ thì bị lực lượng Công an phường A kiểm tra. Do sợ bị phát hiện nên B đã thả túi ma túy vừa mua xuống đất thì bị lực lượng công an phát hiện và thu giữ dưới đất cách chân trái của B khoảng 10cm 01 túi nilon màu trắng. Tổ công tác đã đưa B cùng vật chứng về trụ sở Công an phường A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 725/KLGĐ-MT ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Mòng Văn B là ma túy, có khối lượng: 0,19 gam, là loại Heroine.

Tại Bản cáo trạng số 257/CT-VKSLC ngày 04/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Mòng Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với người nam giới bán ma túy cho Mòng Văn B, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra, xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Mòng Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Mòng Văn B mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 725MT/PC09 đựng vỏ bao gói và lượng ma túy còn lại sau giám định (là vật nhà nước cấm lưu hành).
  • - Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn: Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo Mòng Văn B: Ông Trần Văn N2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố T nhất trí với tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên ông N2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân và điều kiện sinh sống của bị cáo; lượng ma túy bị cáo tàng trữ 0,19 gam Heroin là không lớn, bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo sẽ được Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” :

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ; kết luận giám định của Phòng K1 - Công an thành phố H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 11 giờ 50 phút ngày 11/6/2024 tại khu vực trước cửa nhà số H Đ, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng, Mòng Văn B có hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam Heroine với mục đích để bản thân sử dụng bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo Mòng Văn B theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số K - Mú cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của địa phương nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về quan điểm của người bào chữa cho bị cáo:

[7] Hội đồng xét xử xét thấy: Quan điểm của người người bào chữa cho bị cáo phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quy định pháp luật nên được ghi nhận và xem xét khi quyết định hình phạt.

- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[8] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như đã phân tích ở trên, vẫn cần áp dụng hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, theo mức mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[9] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Đối với lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phong trong bì thư niêm phong số 725MT/PC09) xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí hình sự sơ thẩm:

[11] Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo bản án:

[12] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố: Bị cáo Mòng Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Mòng Văn B 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phòng trong bì thư niêm phong số 725MT/PC09).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2024 giữa Cơ quan Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

- Về án phí hình sự sơ thẩm:

[12] Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Mòng Văn B được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Phong Lan

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân;
  • - PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 258/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mòng Văn Bắc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger