Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 258/2024/HS-ST

Ngày 23-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Bằng

Bà Đào Thị Giang

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh- Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Đạo- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 246/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

Nguyễn Nhật T, sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình K (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1962; Vợ là Đặng Thị Hồng Q, sinh năm 1994 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 31-3-2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ- Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

Trần Đức T1, sinh năm 1996 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Phước H1, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1970; Vợ là Vũ Thị Thủy T2, sinh năm 1998, có 02 con sinh năm 2017 và năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5- Công an tỉnh Đ (có mặt).

Vũ Đức H2, sinh năm 1988 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới

tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đức H3, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị Bé B, sinh năm 1964; Vợ là Nguyễn Thị T3, sinh năm 1989, có 03 con sinh năm 2012, 2017 và 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ- Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Đức H2: Bà Võ Thanh T4- Luật sư thuộc văn phòng L1- Đoàn luật sư thành phố C (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Nhật T, Trần Đức T1, Vũ Đức H2 và Nguyễn Thị T5 là bạn của nhau và đều là người sử dụng ma túy đá. Nguyễn Nhật T để có tiền và ma túy sử dụng, T gọi điện cho một người tên Đ (không rõ nhân thân lai lịch) mua ma túy đá rồi đem về nhà tại địa chỉ ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, phân nhỏ ma túy ra để sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện khác. Trần Đức T1 là người giúp T trực tiếp bán ma túy cho các con nghiện khác và được T cho sử dụng ma túy miễn phí. Vũ Đức H2 là người mua ma túy của T và dùng số ma túy mua được để sử dụng cùng với T và T1 tại nhà của T. Nguyễn Thị T5 là bạn gái của T, được T cho sử dụng ma túy miễn phí.

Vào khoảng 22 giờ ngày 31/03/2024 trong lúc Nguyễn Nhật T đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng bếp nhà ở địa chỉ số C, đường D, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã B kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm chai nhựa, ống hút, nỏ thủy tinh còn bám dính chất màu vàng nâu), 01 hộp giấy màu đỏ bên trong có 02 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng, thu giữ tại vị trí cửa phòng bếp 02 vỏ gói nylon đã bị cắt 01 đầu bên trong dính chất màu trắng. Cùng lúc này phát hiện trong nhà Trường có Trần Đức T1, Vũ Đức H2 và Nguyễn Thị T5, qua xét nghiệm nhanh các đối tượng đều dương tính với chất ma túy nên Công an xã B đã đưa các đối tượng về làm việc, đồng thời lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định:

Nguyễn Nhật T và Trần Đức T1 đã nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện, trong đó Trần Đức T1 đã trực tiếp giúp T bán ma túy 05 lần, cụ thể:

  • Lần thứ nhất vào khoảng 12 giờ ngày 28/3/2024, T1 giúp T bán ma túy cho một người phụ nữ tên H4 (không rõ tên thật, địa chỉ) với giá 200.000 đồng tại trước cổng nhà của T.
  • Lần thứ hai và thứ ba vào khoảng 11 giờ và 22 giờ ngày 30/3/2024, T1 giúp T bán ma túy hai lần cho một người phụ nữ tên H4 (không rõ tên thật, địa chỉ) mỗi lần một gói ma túy giá 200.000 đồng tại trước cổng nhà của T.
  • Lần thứ tư và thứ năm vào khoảng 16 giờ 35 phút và 20 giờ 33 phút ngày 31/3/2024, T1 giúp T bán ma túy với giá 300.000 đồng cho Sỹ Q1 (không rõ tên thật, địa chỉ) và bán ma túy giá với 300.000 đồng cho Lê Tuấn M.

Vũ Đức H2 đã nhiều lần mua ma túy của T và dùng số ma túy mua được để sử dụng chung với T và T1 tại nhà Trường, cụ thể:

  • Lần thứ nhất vào khoảng 12 giờ ngày 20/3/2024, H2 đến nhà Trường hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì T đồng ý, T bán cho H2 01 gói ma túy giá 200.000 đồng. Sau khi mua ma tuý thì H2 cho vào bộ D sử dụng ma túy của T để sử dụng chung với T tại phòng bếp.
  • Lần thứ hai vào khoảng 22 giờ ngày 24/3/2024, H2 đến nhà Trường hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, T đồng ý bán cho H2 01 gói ma túy giá 200.000 đồng, Sau đó H2 bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của T để sử dụng chung với T tại phòng bếp.
  • Lần thứ ba vào khoảng 18 giờ 00 ngày 28/3/2024, H2 đến nhà Trường thì thấy T và T1 đang ngồi sử dụng ma túy tại phòng bếp. H2 hỏi mua 200.000 đồng ma tuý thì T đồng ý. Sau khi T đưa ma túy thì H2 lấy toàn bộ số ma túy trên bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của T để sử dụng chung với T và T1 tại nhà Trường

Nguyễn Thị T5 là bạn gái của T, T5 được T cho sử dụng ma túy chung miễn phí 03 lần tại nhà của T, lần gần nhất là vào khoảng 03 giờ sáng ngày 31/3/2024 (bút lục 01-02).

Ngày 02/04/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nêu trên. Tại bản Kết luận giám định số 682/KL-KTHS ngày 09/04/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

  • Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,4582gam, loại: Methamphetamine.
  • Mẫu chất màu nâu (Ký hiệu M2) bám dính trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng (Bút lục số 50-54).

Ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Nhật T, Trần Đức T1 và Vũ Đức H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Nhật T, Trần Đức T1 và Vũ Đức H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên (bút lục số 55; 58; 59; 60; 89-109;117-136; 143-165).

Tại phiên tòa Nguyễn Nhật T, Trần Đức T1 và Vũ Đức H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trang truy tố đối với các bị cáo là đúng sự thật.

Nguyễn Nhật T trình bày, T là người trực tiếp đi mua ma túy về tại nhà của T ở ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai rồi phân ma túy ra thành các bịch nhỏ và cùng T1 bán nhiều lần cho các con nghiện khác. T trực tiếp bán ma túy cho H2 03 lần và H2 đã dùng ma túy mua của T để sử dụng tại nhà Trường với T 03 lần, trong đó 01 lần có cả T1 cùng sử dụng. Ngoài ra, T còn sử dụng ma túy riêng với T1, T5 tại nhà của T.

Trần Đức T1 trình bày, T1 biết việc T mua ma túy về phân nhỏ ra để bán cho các con nghiện khác, nhưng do T cho T1 sử dụng ma túy miễn phí nên T1 đã giúp T bán ma túy nhiều lần, cụ thể bán cho một người phụ nữ tên H4 (không rõ tên

thật, địa chỉ) 03 lần vào ngày 28/3/2024 và ngày 30/3/2024; bán cho cho Sỹ Q1 01 lần và bán cho Lê Tuấn M 01 lần vào ngày 31/3/2024. Ngoài ra, T1 cùng sử dụng ma túy với T và H2 vào ngày 28/3/2024.

Vũ Đức H2 trình bày, H2 biết T bán ma túy nên liện hệ mua ma túy của T 03 lần, mỗi lần 200.000 đồng để bản thân sử dụng, nhưng do không có bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên sau khi mua ma túy, H2 mượn bộ dụng cụ sử dụng ma túy của T và sử dụng ma túy ngay tại nhà của T cùng với T và T1. Cụ thể: Ngày 20/3/2024 và ngày 24/3/2024, sau khi mua ma túy của T, H2 bỏ vào nỏ và cùng sử dụng với T; ngày 28/3/2024, sau khi mua ma túy của T, H2 bỏ vào nỏ và sử dụng ma túy cùng với T và T1.

Tại bản cáo trạng số: 246/CT/VKS-TB, ngày 23 tháng 8 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố các bị cáo:

Nguyễn Nhật T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015.

Trần Đức T1 về tội “Mua bán phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015.

Vũ Đức H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Vũ Đức H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Trần Đức T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 và các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả 02 tội 14 năm đến 15 năm tù.

Xử phạt bị cáo Vũ Đức H2 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù

Xử phạt bị cáo Trần Đức T1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Đề nghị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom tuyên tịch thu tiêu huỷ đối với 01 phong bì niêm phong ma túy sau giám định ký hiệu số 682/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K1 (PC09) Công an tỉnh Đ; 01 nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 hộp quẹt gas, 01 hộp giấy màu đỏ. Tịch thu sung công đối với 01 điện thoại hiệu realme màu xanh (màn hình bị vỡ) gắn sim số 0878.662.603; 01 điện thoại Iphone 6s plus màu vàng gắm sim số 0784.708.298 và 01 điện thoại realme màu xanh gắn sim số 0941.257.462. Đối với 01 điện thoại

di động hiệu Samsung màu đen (bị vỡ màn hình) không có sim của T; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen, gắn số sim 0865.377.812 của T5 không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho T và T5. Đối với xe môtô hiệu Honda SH More, biển số 60H1-390.83, kết quả tra cứu xác định do ông Vũ Đức H3, năm sinh 1959, địa chỉ: ấp T, xã H 3, huyện T đứng tên trên chứng nhận đăng ký xe và là chủ sở hữu (ông H3 là cha ruột của H2). Ngày 31/3/2024, ông H3 để xe mô tô 60H1-390.83 ở nhà thì H2 mượn xe đi chơi, sau đó sử dụng vào việc phạm tội thì ông H3 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông H3. Đối với xe môtô biển số 60L6-9044 và xe môtô biển số 17B6-639.95, kết quả tra cứu biển số xe xác định số máy, số khung theo biển số không trùng khớp với số máy, số khung trên xe. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số máy, số khung để xác định nguồn gốc xe nhưng chưa có kết quả, do đó tách ra tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định (bút lục 189-200).

Tại phiên Tòa, người bào chữa cho bị cáo Vũ Đức H2 trình bày: Thống nhất với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Đại diện viện kiểm sát truy tố và áp dụng đối với bị cáo H2. Nhưng đề nghị HĐXX xem xét về khung hình phạt cho bị cáo H2 vì bị cáo không thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên”, bởi lẽ ma túy bị cáo sử dụng do T cung cấp chứ không phải bị cáo cung cấp, việc bị cáo mua ma túy của T rồi cùng sử dụng đó không phải là việc bị cáo cung cấp ma túy. Còn ngày 28/3/2024 H2 cùng T và T1 sử dụng ma túy, do T không bị xử lý hình sự nên không thể áp dụng tình tiết “Đối với 02 người trở lên” cho bị cáo H2. Do đó, đề nghị xem xét xử lý bị cáo H2 theo quy định tại khoản 1 điều 255 Bộ luật hình sự, đồng thời xem xét lại việc định lượng hình phạt cho bị cáo H2 so với bị cáo T về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Nguyễn Thị T5 không biết và không phụ giúp T và T1 trong việc mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý hình sự. Tuy nhiên, đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T5, Công an huyện T đã xử phạt hành chính theo quy định.

Đối với Lê Tuấn M là người mua ma túy của T và T1 để sử dụng và đã sử dụng hết, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính theo quy định.

Đối với đối tượng tên Đ là người bán ma túy cho T, Quá trình điều tra không có căn cứ để xác định nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, các

bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Nhật T, Trần Đức T1 và Vũ Đức H2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dụng bản cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luật giám định, kết quả xét nghiệm chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ kết luận:

Từ ngày 20/3/2024 đến ngày 31/3/2024, tại nhà của Nguyễn Nhật T ở địa chỉ số C, đường D, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Nhật T trực tiếp bỏ tiền đi mua ma túy về phân nhỏ ra và cùng với Trần Đức T1 bán cho nhiều người gồm Vũ Đức H2 03 lần, Lê Tuấn M 01 lần, đối tượng tên H4 03 lần và Sỹ Q1 01 lần thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng 1,4582 gam ma túy loại Methamphetamine. Ngoài ra, T còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý 03 lần với Nguyễn Thị T5 và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý với T1.

Vũ Đức H2 sau khi mua ma tuý 03 (ba) lần của T thì Vũ Đức H2 đã dùng chính ma túy đó tại nhà của T cùng sử dụng trái phép chất ma tuý với T và T1. Trong đó 02 lần cùng sử dụng ma túy với T và 01 lần cùng sử dụng ma túy với T và T1.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Nhật T và Trần Đức T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Nhật T và Vũ Đức H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015 với các tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên”.

[2.2] Xét về tính chất, mức độ thực hiện hành vi và vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng chỉ dừng ở mức giản đơn, không có người cầm đầu, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì bị cáo T là người bỏ tiền trực tiếp đi mua ma túy về phân nhỏ ra, còn bị cáo T1 trực tiếp bán nên bị cáo T có vai trò cao hơn bị cáo T1. Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị cáo H2 là người mua ma túy để tổ chức sử dụng, bị cáo T là người cung cấp dụng cụ, địa điểm tổ chức sử dụng nên có vai trò tương đương nhau.

[2.3] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt vì không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại

điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Riêng bị cáo H2 có ông ngoại là liệt sĩ, ông nội được Chủ tịch nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, danh hiệu 60 năm tuổi Đảng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về việc áp dụng hình phạt: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng do lỗi cố ý, xâm phạm khách thể về ma túy được pháp luật bảo vệ, bản thân các bị cáo là người nhiều lần trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung, cũng như tạo điều kiện cho các bị cáo có thời gian để cai nghiện ma túy. Tuy nhiên, cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên cho các bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt, thể hiện tính nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật.

[2.4] Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu xanh (màn hình bị vỡ) kèm theo sim có số seri 8401 2205 5008 3497; 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 6s plus màu vàng, khay sim có số seri 355753074504676, kèm sim có số seri 8401 2304 9207 9884 và 01 (một) điện thoại Realme màu xanh kèm sim có số seri 8401 2209 5021 0861, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Cần tịch thu tiêu hũy 01 (một) phong bì đã niêm phong chứa chất ma tuý còn lại sau giám định vụ số 682/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K1 (PC09) Công an tỉnh Đ; 01 nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 hộp quẹt gas, 01 hộp giấy màu đỏ.

[3] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Nhận định về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom và người bào chữa cho bị cáo H2 tại phiên Tòa:

Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố, khung hình phạt đối với các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Quan điểm đề nghị về tội danh, hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vũ Đức H2 của người bào chữa phù hợp với nhận định của HĐXX nêu trên thì được chấp nhận, không phù hợp với nhận định của HĐXX thì không được chấp nhận. Cụ thể: Tại phiên Tòa, bị cáo H2 thống nhất với lời khai của bị cáo T và T1, bị cáo H2 thừa nhận sau khi chuyển tiền mua ma túy cho T thì T đưa ma túy cho H2 và H2 đổ vào bộ dụng cụ để cùng sử dụng ma túy với T và T1, trong đó H2 sử dụng cùng T 02 lần vào ngày 20/3/2024 và ngày 24/3/2024, sử dụng ma túy cùng T và T1 vào ngày 28/3/2024. Trong 03 lần sử dụng chung, khi H2 sử dụng ma túy thì T và T1 cùng vào sử dụng ma túy và H2 không phản đối hay có ý kiến gì. Do đó, việc áp dụng tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” và

“Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 đối với bị cáo H2 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả 02 (hai) tội cho bị cáo Nguyễn Nhật T là 14 (mười bốn) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2024.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Vũ Đức H2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Trần Đức Thiện H5 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 điều 106 Bộ tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu xanh (màn hình bị vỡ) kèm theo sim có số seri 8401 2205 5008 3497; 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 6s plus màu vàng, khay sim có số seri 355753074504676, kèm sim có số seri 8401 2304 9207 9884 và 01 (một) điện thoại Realme màu xanh kèm sim có số seri 8401 2209 5021 0861.

Tịch thu tiêu hũy 01 (một) phong bì đã niêm phong chứa chất ma tuý còn lại sau giám định vụ số 682/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K1 (PC09) Công an tỉnh Đ; 01 nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 hộp quẹt gas, 01 hộp giấy màu đỏ.

(Vật chứng hiện đang ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Nhật T, Trần Đức T1 và Vũ Đức H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - Chi cục THADS huyện Trảng Bom;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 258/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Nhật Trường và đồng phạm phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger