Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 258/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vân;
  2. Ông Võ Văn Dương.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hằng-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy L-Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 260/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số I Tỉnh lộ 7, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1956 và bà Phạm Thị N, sinh năm: 1959; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1987, có 01 con sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/8/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 208/2024/HS-ST.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ chuyển sang tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 00 ngày 10/01/2024, Công an xã P, huyện C kiểm tra hành chính nhà số I Tỉnh lộ 7, ấp B, xã P, huyện C của Nguyễn Văn H. Qua kiểm tra phát hiện trên bàn trong phòng để đồ có 01 hộp gỗ bên trong có chứa 10 viên đạn bằng kim loại và 02 vỏ đạn, trên nền gạch cạnh chân bàn có 01 hộp tiếp đạn bên trong có chứa 08 viên đạn. Công an xã P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra H khai nhận vào khoảng năm 2016, H làm nghề thu gom rác, khi đến khu vực gần Trại giam T1 (Bộ C1) tại xã P, huyện C thì nhặt được 10 viên đạn, 02 vỏ đạn và 01 hộp tiếp đạn bên trong có 08 viên đạn nên mang về nhà giữ với mục đích làm kỷ niệm. Đến ngày 10/01/2024, Công an xã P, huyện C kiểm tra hành chính tại địa chỉ số I Tỉnh lộ 7, ấp B, xã P, huyện C thì phát hiện và bắt quả tang H như đã nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 2813/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K -Công an Thành phố H kết luận: “08 viên đạn gửi giám định ký hiệu A1 đến A4 đã nêu ở mục II là đạn quân dụng, chưa qua sử dụng, thường sử dụng cho loại súng K59, CZ83, P83; 01 viên đạn gửi giám định ký hiệu A2 nêu ở mục II là đạn quân dụng, đã qua sử dụng, thường sử dụng cho loại súng K59, CZ83, P83; 04 viên đạn gửi giám định ký hiệu A3 nêu ở mục II là đạn quân dụng, chưa qua sử dụng, thường sử dụng cho loại súng AK47, K66, CKC; 05 viên đạn gửi giám định ký hiệu A4 nêu ở mục II là đạn quân dụng, đã qua sử dụng, thường sử dụng cho loại súng AK47, K66, CKC; 02 võ đạn gửi giám định ký hiệu A5 nêu ở mục II và 01 vỏ đạn, 01 hộp tiếp đạn không xác định được nguồn gốc, xuất xử, không thuộc danh mục vũ khí”.

Vật chứng thu giữ: 05 viên đạn có cùng ký hiệu “31-76”, cùng cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “31-70”, cùng cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “911-13”, cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “539-87”, cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “14-96”, cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “S&B9mmM 12”, cỡ 9x18mm; 03 viên đạn có cùng ký hiệu “99-21”, cùng cỡ 9x18mm; 02 viên đạn có cùng ký hiệu “73-21”, cùng cỡ 9x18mm và 03 viên đạn có cùng ký hiệu “72-21”, cùng cỡ 9x18mm.

Tại Cáo trạng số 566/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 26/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Năm 2016, bị cáo làm nghề thu gom rác, bị cáo đi gom rác khu vực gần Trại tạm giam T30 ở xã P, huyện C để mang về phân loại rác, khi phân loại rác thì bị cáo nhặt được 10 viên đạn, 02 vỏ đạn và 01 hộp tiếp đạn bên trong có chứa 08 viên đạn, bị cáo mang về nhà cất để làm kỷ niệm. Đến ngày 10/01/2024, Công an xã P, huyện C kiểm tra hành chính tại nhà của bị cáo số I Tỉnh lộ 7, ấp B, xã P, huyện C thì phát hiện nên lập biên bản bắt giữ bị cáo, thu giữ các viên đạn, vỏ đạn và hộp tiếp đạn có 08 viên đạn bên trong.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 304, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 (Một) năm tù đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”;

- Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 208/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 tội.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Điều 35 và Khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm a, b Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xử lý như sau: 05 viên đạn có cùng ký hiệu “31-76”, cùng cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “31-70”, cùng cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “911-13”, cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “539-87”, cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “14-96”, cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “S&B9mmM 12", cỡ 9x18mm; 03 viên đạn có cùng ký hiệu “99-21”, cùng cỡ 9x18mm; 02 viên đạn có cùng ký hiệu “73-21”, cùng cỡ 9x18mm và 03 viên đạn có cùng ký hiệu “72-21”, cùng cỡ 9x18mm là đối tượng phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Nguyễn Văn H không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Nguyễn Văn H nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo không nghĩ việc bị cáo giữ các viên đạn nhặt được để làm kỷ niệm lại vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án nhẹ để sớm về lo cho cha mẹ già và vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 18 viên đạn là đạn quân dụng thì bị phát hiện, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng nói trên của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý về vũ khí quân dụng của Nhà nước, đe dọa đến trật tự an toàn công cộng, tính mạng, sức khỏe của người khác. Khi thực hiện, bị cáo nhận thức rõ vũ khí quân dụng chịu sự quản lý độc quyền, chặt chẽ của nhà nước, mọi hành vi cất giấu, mua bán, sử dụng trái phép là vi phạm pháp luật, thế nhưng bị cáo vẫn tự ý tàng trữ 18 viên đạn nói trên nhằm mục đích làm đồ vật lưu niệm. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thời gian phục vụ trong lực lượng Công an huyện C và được tặng bằng khen, có bà ngoại tên Nguyễn Thị L1 được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, bị cáo là người thờ cúng liệt sĩ Nguyễn Văn H2, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng nhằm làm vật lưu niệm, không nhằm mục đích khác, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và Khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

[6] Về vật chứng vụ án:

05 viên đạn có cùng ký hiệu “31-76”, cùng cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “31-70”, cùng cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “911-13”, cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “539-87”, cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “14-96”, cỡ 7,62x39mm; 01 viên đạn có ký hiệu “S&B9mmM 12”, cỡ 9x18mm; 03 viên đạn có cùng ký hiệu “99-21”, cùng cỡ 9x18mm; 02 viên đạn có cùng ký hiệu “73-21”, cùng cỡ 9x18mm; 03 viên đạn có cùng ký hiệu “72-21”, cùng cỡ 9x18mm. Các vật chứng này là đối tượng phạm tội nên Hội đồng xét xử xét tịch thu tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác:

Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 10/01/2024, ngày 15/8/2024 Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 208/2024/HS-ST, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp bản án.

[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

  1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 304, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.

  2. Căn cứ vào Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 06 (Sáu) năm 09 (C) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.

  3. Căn cứ vào Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

    Tịch thu tiêu hủy: 05 (Năm) viên đạn có cùng ký hiệu “31-76”, cùng cỡ 7,62x39mm; 01 (Một) viên đạn có ký hiệu “31-70”, cùng cỡ 7,62x39mm; 01 (Một) viên đạn có ký hiệu “911-13”, cỡ 7,62x39mm; 01 (Một) viên đạn có ký hiệu “539-87”, cỡ 7,62x39mm; 01 (Một) viên đạn có ký hiệu “14-96”, cỡ 7,62x39mm; 01 (Một) viên đạn có ký hiệu “S&B9mmM 12”, cỡ 9x18mm; 03 (Ba) viên đạn có cùng ký hiệu “99-21”, cùng cỡ 9x18mm; 02 (Hai) viên đạn có cùng ký hiệu “73-21”, cùng cỡ 9x18mm; 03 (Ba) viên đạn có cùng ký hiệu “72-21”, cùng cỡ 9x18mm.

    (Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Lệnh nhập kho vật chứng số 209/LNK-ANĐT-Đ2 ngày 25/6/2024 (bút lục số 124) của cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố H và Lệnh nhập kho vật chứng số 50/2024.VC ngày 08/7/2024 (bút lục số 126) của Bộ Tư lệnh Thành phố H).

  4. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Đa Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu.

  5. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thúy Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng)

  • Số bản án: 258/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger