Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 258/2024/DS-PT

Ngày: 17/5/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất

và đòi lại quyền sử dụng đất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
  • - Các Thẩm phán: Ông Ngô Tấn Lợi
  • Bà Kiều Kim Xuân
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi lại quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 217/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1951 (Đã chết).
  • Địa chỉ: Số nhà A N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng tháp.
  • Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn B gồm:
    1. Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1952;
    2. Anh Nguyễn Thành N, sinh năm 1981;
    3. Chị Nguyễn Kim H, sinh năm 1984;
  • Cùng địa chỉ: Số nhà A N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng tháp.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà L, anh N, chị H: Ông Tạ Như H1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Bị đơn: Bà Trà Thị T, sinh năm 1948.
  • Địa chỉ: Số nhà B N, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trà Thị T: Bà Lại Phan Xuân Đ, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Số B L, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1952.
    2. Địa chỉ: Số nhà A N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng tháp.
    3. Ủy ban nhân dân thành phố S.
    4. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Thanh S. Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S.
  • - Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc L; Anh Nguyễn Thành N; Chị Nguyễn Kim H (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B) nguyên đơn của vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Văn B, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, ông Tạ Như H1 là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp: Ông B nhận tặng cho từ mẹ vợ là cụ Võ Thị T1. Ngày 24/7/1993, ông Nguyễn Văn B được Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là Thành phố) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu gồm 2 thửa đất: Thửa đất số 1222, diện tích 1.222m², đất 2L và Thửa đất số 1233, diện tích 400m², đất T; cùng tờ bản đồ số 1, đất tọa lạc tại khóm T, phường A, thành phố S.

Vào năm 1995, ông B thỏa thuận miệng chuyển nhượng cho ông Ử (chồng bà T) phần đất ngang 12m, dài 51,5m, diện tích 618m²; hai bên có mời cán bộ địa chính xuống đo đạc; ông B có chứng kiến và chỉ vị trí đất chuyển nhượng theo Biên bản đo đạc đất chuyển nhượng ngày 29/8/1995. Do không biết chữ nên ông B không đọc được nội dung và cũng không có ký tên trong biên bản nhưng ông B nghĩ diện tích đo đạc đúng với diện tích ông B thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Ử là 618m².

Đến năm 1997, cũng vì không biết chữ nên ông B giao cho ông Ử làm thủ tục chuyển nhượng và sang tên quyền sử dụng đất. Ông B không biết và cũng không có ký tên Hợp đồng chuyển nhượng ngày 30/10/1997. Mặc dù Hợp đồng ghi diện tích là 1.042m², nhưng thực tế ông B chỉ chuyển nhượng cho ông Ử phần đất diện tích 618m² theo biên bản đo đạc ngày 29/8/1995.

Thực tế, ông B có thỏa thuận miệng chuyển nhượng cho ông Ử phần đất diện tích 618m². Tuy nhiên, chữ ký và chữ viết Nguyễn Văn B trong Biên bản đo đạc đất chuyển nhượng ngày 29/8/1995 và Hợp đồng chuyển nhượng ngày

30/10/1997 không phải của ông B ký và viết. Quá trình giải quyết vụ án, ông B không yêu cầu giám định chữ ký và chữ viết của mình trong hai văn bản này. Tại phiên tòa ngày 09/5/2023, người đại diện hợp pháp của ông B yêu cầu giám định chữ ký và chữ viết của ông Nguyễn Văn B trong Biên bản đo đạc đất chuyển nhượng ngày 29/8/1995 và Hợp đồng chuyển nhượng ngày 30/10/1997. Tại văn bản số: 282/KTHS ngày 26/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định: Không đủ cơ sở kết luận giám định do chữ ký của ông Nguyễn Văn B không ổn định. Đồng thời, người đại diện hợp pháp của ông B không có ý kiến gì về nội dung này và cũng không giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.

Bên cạnh đó, sự việc ông Ử được cấp giấy thời gian nào, diện tích bao nhiêu thì ông B không biết. Sau khi ông Ử chết, bà T làm thủ tục thừa kế, tiến hành đo đạc thì ông B mới biết phần đất tranh chấp ông B không có chuyển nhượng cho ông Ử nhưng ông Ử đã được cấp giấy. Do đó, ông B đã gửi đơn đến Ủy ban phường A yêu cầu giải quyết tranh chấp với bà T. Sau đó, Ủy ban Phường có mời ông B và bà T ra giải quyết; tại buổi hòa giải ông B không đồng ý công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp cho bà T. Vì không biết chữ nên ông B đọc được nội dung biên bản hòa giải mà chỉ ký tên. Đến khi nhận được quyết định công nhận hòa giải thành của Ủy ban nhân dân phường A thì ông B mới biết phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà T nên ông B tiếp tục khiếu nại đến nhiều nơi, nhiều cấp nhưng không được giải quyết; đến năm 2020, ông B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

Qua đo đạc thực tế, theo sơ đồ đo đạc ngày 20/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, phần đất tranh chấp thể hiện tại hình 2 theo các mốc M12, M13, M14, M15, M16 đến M12 có diện tích 247,5m²; phần đất tại hình 2 này, ông B không có chuyển nhượng cho ông Ử.

Đối với phần đất tại hình 1 theo các mốc M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M12, M16, M17, M3 đến M4 diện tích thực đo là 607,9m² (diện tích thỏa thuận chuyển nhượng là 618m²) thì ông B đã chuyển nhượng cho ông Ử từ năm 1995.

Tuy nhiên, từ thời điểm chuyển nhượng cho ông Ử đến nay, phần đất tại hình 1 và hình 2 vẫn do ông B quản lý, sử dụng. Đối với phần đất tranh chấp tại hình 2, vào năm 2012, ông B tiến hành bơm cát san lấp khối lượng 03 ghe cát, số tiền 28.000.000₫.

Nay, ông B yêu cầu bà T trả lại quyền sử dụng đất diện tích 247,5m² thể hiện tại hình 2 theo các mốc M12, M13, M14, M15, M16 đến M12 thuộc một phần thửa đất số 29, tờ bản đồ số 38, diện tích 968,5m² do bà Trà Thị T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hiện đất do ông B đang quản lý, sử dụng) vì phần

đất này ông B không có chuyển nhượng cho ông Ử. Các cây trồng trên đất là của ông B có thể di dời nên không tranh chấp gì.

Trường hợp, giao đất cho bà T quản lý, sử dụng thì ông B yêu cầu bà T trả lại chi phí san lấp cát số tiền 28.000.000đ.

Ngoài ra, ông B không có yêu cầu gì khác.

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, ông Trần Thanh H2 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - bà Trà Thị T, trình bày:

Nguồn gốc phần đất thuộc thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 1, do chồng bà T là ông Nguyễn Ngọc Ử1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn B. Ngày 25/11/1997, ông Nguyễn Ngọc Ử1 được Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là Thành phố) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.042m², đất 2L.

Sự việc, ông Ử1 nhận chuyển nhượng đất của ông B thì bà T có biết, ông B có đến nhà ông Ử1, bà T để nhận tiền và ông Ử1 có chở bà T2 đến phần đất chuyển nhượng để biết vị trí đất. Tuy nhiên, về thủ tục giấy tờ, giữa ông Ử1 và ông B thực hiện như thế nào bà T không biết cụ thể.

Sau khi ông Ử1 chết, bà T nhận thừa kế và được Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là Thành phố) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/10/2006 thửa đất số 29, tờ bản đồ số 38, diện tích 968,5m², tại thời điểm cấp giấy có tiến hành đo đạc (diện tích giảm là do kết quả đo đạc và bà T cũng đồng ý).

Sau khi được cấp giấy, bà T đã đóng trụ đá kéo hàng rào dây kẽm gai; do chưa có nhu cầu sử dụng nên bà T chưa yêu cầu ông B giao đất nên đồng ý cho ông B tiếp tục sử dụng diện tích ao tại hình 1 để nuôi cá mà không có làm giấy tờ còn phần đất tranh chấp (hình 2) là đất trũng, thấp, ngập nước vẫn để trống. Sự việc ông B tự ý bơm cát san lấp phần đất tranh chấp (hình 2), bà T không biết vì nhà bà T ở nơi khác nên không có đến phần đất kiểm tra.

Qua đo đạc thực tế, quyền sử dụng đất bà T được cấp giấy thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 38 thể hiện tại hình 1 theo các mốc M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M12, M16, M17, M3 đến M4, diện tích 607,9m² và hình 2 theo các mốc M12, M13, M14, M15, M16 đến M12, diện tích 247,5m²; tổng diện tích là 855,4m² (giảm 113,1m² so với diện tích được cấp giấy là 968,5m²).

Lý do diện tích đất giảm là do ranh đất tiếp giáp với thửa đất của ông N1 thiếu khoảng 6,52m so với ranh cấp giấy theo chiều ngang. Tuy nhiên, trong vụ án này, bà T không tranh chấp và cũng không có yêu cầu gì đối với ông N1. Trường

hợp phát sinh tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, bà T sẽ khởi kiện ông N1 bằng một vụ án khác.

Hiện nay, phần đất tại hình 1 và hình 2 thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 38 vẫn do ông B quản lý, sử dụng.

Nay, bà T không đồng ý trả lại cho ông B quyền sử dụng đất diện tích 247,5m² thể hiện tại hình 2 vì phần đất này, ông B đã chuyển nhượng cho ông Ử1 và hiện nay do bà T đã được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

Vì vậy, bà T có yêu cầu phản tố: Yêu cầu ông Nguyễn Văn B giao trả cho bà T quản lý, sử dụng phần đất đo đạc thực tế diện tích 247,5m² thể hiện tại hình 2 theo các mốc M12, M13, M14, M15, M16 đến M12 thuộc một phần thửa đất số 29, tờ bản đồ số 38, diện tích 968,5m² hiện do bà Trà Thị T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với việc ông B tự ý bơm cát san lấp phần đất tại hình 2, trường hợp ông B giao trả đất cho bà T quản lý, sử dụng thì bà T đồng ý hoàn trả lại chi phí san lấp cát số tiền 28.000.000đ cho ông B. Đồng thời, bà T tự nguyện hỗ trợ cho ông B chi phí di dời tài sản trên đất số tiền 2.000.000₫.

Ngoài ra, bà T không còn yêu cầu gì khác.

Quá trình tham gia tố tụng, bà Nguyễn Ngọc L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà L xác định: Nguồn gốc đất thửa đất số 1222, diện tích 1.222m², đất 2L và Thửa đất số 1233, diện tích 400m², đất T; cùng tờ bản đồ số 1, đất tọa lạc tại khóm T, phường A, thành phố S được cấp giấy năm 1993 cho ông B đứng tên là của cụ Võ Thị T1 (là mẹ ruột của bà L) tặng cho. Do đó, quyền sử dụng đất này là tài sản chung của vợ chồng.

Sự việc ông B chuyển nhượng đất cho ông Ử1 và những người khác thì bà L có biết và đồng ý.

Thời điểm năm 1995, khi ông B và ông Ử1 thỏa thuận chuyển nhượng có kêu bà L ký tên giấy tờ một lần duy nhất, còn lại thủ tục giấy tờ do ông B và ông Ử1 thực hiện mà L không biết. Đồng thời, do ông B không biết chữ nên bà L có ký tên và ghi họ tên thay cho ông B trong “Đơn xin đăng ký chuyển quyền sử dụng đất ngày 03/9/1995”. Sau thời điểm đó, bà L mới tập cho ông B ký tên đơn giản như chữ ký hiện nay để ông B tự ký các giấy tờ.

Bà L thống nhất với nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của ông H1 (là người đại diện hợp pháp của ông B). Do đó, bà L hoàn toàn đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B. Trong vụ án này, bà L không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ủy ban nhân dân thành phố S có văn bản ý kiến:

Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số: 39/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Trà Thị T.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trà Thị T về việc đòi lại quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn B.
    1. Buộc ông Nguyễn Văn B giao trả cho bà Trà Thị T quản lý, sử dụng phần đất diện tích 247,5m² thể hiện tại hình 2 theo các mốc M12, M13, M14, M15, M16 đến M12, theo sơ đồ đo đạc ngày 20/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thuộc một phần thửa đất số 29, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại phường A, thành phố S do bà Trà Thị T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hiện đất do ông B đang quản lý, sử dụng).

(Có sơ đồ đo đạc ngày 20/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án kèm theo).

Các đương sự: Ông B, bà T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    1. Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự:

Bà Trà Thị T hoàn trả lại chi phí san lấp cát cho ông Nguyễn Văn B số tiền 28.000.000đ và hỗ trợ chi phí di dời cây trồng trên đất số tiền 2.000.000đ; tổng cộng 30.000.000đ (Bằng chữ: Ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn B và bà Trà Thị T thuộc trường hợp là người cao tuổi, có đơn hợp lệ nên được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá:

Ông Nguyễn Văn B chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định và định giá số tiền 6.629.100đ. Ông B đã nộp tạm ứng đủ và chi xong số tiền này.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/8/2023, Ông Nguyễn Văn B (nay người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B là bà Nguyễn Thị Ngọc L, anh Nguyễn Thành N, chị Nguyễn Kim H) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu công nhận cho nguyên đơn diện tích đất 247,5m² thể hiện tại hình 2, theo sơ đồ đo đạc ngày 13/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S và bác yêu cầu đòi lại đất của bà Trà Thị T3 đối với diện tích 247,2m².

Tại phiên tòa phúc thẩm;

  • + Người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B là không có căn cứ; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Xét kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bên đương sự thừa nhận: Đất tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Võ Thị T1 tặng cho ông B. Ngày 24/7/1993, ông Nguyễn Văn B được Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là Thành phố S) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu gồm 2 thửa đất: Thửa đất số 1222, diện tích 1.222 m², đất 2L và Thửa đất số 1233, diện tích 400 m², đất T; cùng tờ bản đồ số 1; đất tọa lạc tại khóm T, phường A, thành phố S.

Diện tích đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 3018, tờ bản đồ số 1, hiện do bà T đứng tên quyền sử dụng, có nguồn gốc là do chồng bà T là ông Nguyễn Ngọc Ử1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn B và được Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là Thành phố S) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/11/1997, diện tích 1.042m², đất 2L. Sau khi ông Ử1 chết, bà T nhận thừa

kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/10/2006 thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 38, diện tích 968,5m², tại thời điểm cấp giấy có tiến hành đo đạc, theo đó diện tích giảm là do kết quả đo đạc nhưng bà T vẫn đồng ý.

Diện tích đất tranh chấp là 247,5m² thể hiện tại hình 2 trong phạm vi các mốc M12, M13, M14, M15, M16 đến M12 theo sơ đồ đo đạc, hiện trạng là hầm hố và được ông B san lấp cát. Bà T cho rằng diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà, thuộc một phần thửa 3018, tờ bản đồ số 1 mà trước đây ông B đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà nhưng từ năm 2006 đến nay, do chưa có nhu cầu sử dụng và là đất trũng, thấp, ngập nước, bà để trống, thì ông B tự ý bơm cát san lấp, chiếm dụng nên phát sinh tranh chấp.

Xét thấy, ông B cũng thừa nhận trước đây vào năm 1995 ông có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc Ử1 (chồng bà T) nhưng ông cho rằng ông chỉ chuyển nhượng phần đất ngang 12m, dài 51,5m, diện tích 618m² và khi chuyển nhượng có đo đạc, nhưng do không biết chữ nên ông B không đọc được nội dung và cũng không có ký tên trong Biên bản đo đạc cũng như do ông giao cho phía ông Ử1 làm mọi thủ tục chuyển nhượng nên sau đó diện tích đất ông Ử1 được cấp tách là 1.042m², ông không hay biết. Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày trên của ông B là không có cơ sở, vì không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh việc ông chỉ chuyển nhượng cho vợ chồng ông Ử1, bà T phần đất ngang 12m, dài 51,5m, diện tích 618m².

Mặt khác, việc ông cho rằng tại buổi hòa giải ở Ủy ban nhân dân phường A, ông không đồng ý ranh đất theo Biên bản đo đạc đất chuyển nhượng ngày 29/8/1995 nhưng vì không biết chữ nên không đọc được nội dung biên bản hòa giải mà chỉ ký tên, đến khi nhận được quyết định hòa giải thành ngày 04/8/2006, nhờ người đọc lại thì ông mới biết được nội dung là công nhận ranh đất cho bà T theo Biên bản đo đạc đất chuyển nhượng ngày 29/8/1995 nên ông tiếp tục khiếu nại nhiều nơi, nhiều cấp nhưng không được giải quyết, là không có cơ sở.

Ông B cũng thừa nhận có chứng kiến, chỉ vị trí đất chuyển nhượng theo biên bản đo đạc chuyển nhượng đất giữa ông với ông Ử1 được lập ngày 29/8/1995, trong khi phần đất đang tranh chấp thuộc hình 2 và trong phạm vi các các mốc 4-5-6-7-4 của biên bản đo đạc chuyển nhượng ngày 29/8/1995, đồng thời vào năm 2006, khi bà T tiến hành lập thủ tục kê khai nhận thừa kế quyền sử dụng đất của ông Ử1 thì ông B cũng đồng ý ký xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất với bà T; điều này được thể hiện tại biên bản xác minh nguồn gốc đất ngày 05/9/2006 và biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 09/8/2006.

Ngoài ra, tại Công văn số: 76/UBND-TCD ngày 14/9/2017, Ủy ban nhân thành phố S xác định: Ngày 04/8/2006, Ủy ban nhân dân phường A ban hành

Quyết định số: 105/QĐ-UB về việc công nhận hòa giải thành về tranh chấp đất giữa ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Ngọc Ử1, bà Trà Thị T với nội dung: Hai bên thống nhất theo Biên bản đo đạc đất chuyển nhượng giữa ông Nguyễn Văn B với ông Nguyễn Ngọc Ử1 được lập ngày 29/8/1995. Ngày 13/10/2006, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 29, tờ bản đồ 38, diện tích 968,5m² nên việc ông B khiếu nại bà T cố tình chiếm đoạt đất là không có cơ sở pháp lý, với lý do: phần đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trà Thị T, ông B không có giấy tờ gì chứng minh là đất của Ông.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở để xác định, phần đất tranh chấp thể hiện tại hình 2 theo các mốc M12, M13, M14, M15, M16 đến M12 theo sơ đồ đo đạc ngày 20/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, là một phần trong diện tích đất ông B đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Ử1, bà T vào năm 1995. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông B, chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T là hoàn toàn có căn cứ.

Ngoài ra, việc Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc hoàn trả lại chi phí san lắp cát số tiền 28.000.000đ, hỗ trợ chi phí di dời cây trồng trên đất số tiền 2.000.000đ; tổng cộng 30.000.000đ cho ông B, cũng là phù hợp pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. [3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
  2. [4] Về án phí phúc thẩm: người có quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  3. [5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự và Điều 166 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  • - Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thành N và Nguyễn Kim H là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông ông Nguyễn Văn B.
  • - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc.
  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B (những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn B gồm: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, anh Nguyễn Thành N và chị Nguyễn Kim H) về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Trà Thị T.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trà Thị T về việc đòi lại quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn B.
    1. Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn B gồm: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, anh Nguyễn Thành N và chị Nguyễn Kim H có nghĩa vụ giao trả cho bà Trà Thị T quản lý, sử dụng phần đất diện tích 247,5m² thể hiện tại hình 2 theo các mốc M12, M13, M14, M15, M16 đến M12, theo sơ đồ đo đạc ngày 20/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thuộc một phần thửa đất số 29, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại phường A, thành phố S do bà Trà Thị T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hiện đất do gia đình ông B đang quản lý, sử dụng).

(Có sơ đồ đo đạc ngày 20/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án kèm theo).

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn B (Nguyễn Thị Ngọc L, anh Nguyễn Thành N, chị Nguyễn Kim H) và bà Trà Thị T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    1. Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự:

Bà Trà Thị T hoàn trả lại chi phí san lấp cát cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn B (Nguyễn Thị Ngọc L, anh

Nguyễn Thành N, chị Nguyễn Kim H) số tiền 28.000.000đ và hỗ trợ chi phí di dời cây trồng trên đất số tiền 2.000.000đ; tổng cộng 30.000.000₫ (Bằng chữ: Ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn B và bà Trà Thị T thuộc trường hợp là người cao tuổi, có đơn hợp lệ nên được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Ông Nguyễn Văn B (nay Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thành N và Nguyễn Kim H ) chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định và định giá số tiền 6.629.100đ (đã nộp tạm ứng đủ và chi xong số tiền này)
  3. Về án phí phúc thẩm: người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn B không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐ & KT TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND TP. Sa Đéc;
  • - Chi cục THADS TP. Sa Đéc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 258/2024/DS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi lại quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 258/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi lại quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1951 (Đã chết). Địa chỉ: Số nhà A N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng tháp. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn B gồm: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1952; 2. Anh Nguyễn Thành N, sinh năm 1981; 3. Chị Nguyễn Kim H, sinh năm 1984; Cùng địa chỉ: Số nhà A N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng tháp. Người đại diện theo ủy quyền của bà L, anh N, chị H: Ông Tạ Như H1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Bà Trà Thị T, sinh năm 1948. Địa chỉ: Số nhà B N, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện theo ủy quyền của bà Trà Thị T: Bà Lại Phan Xuân Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số B L, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger